 |
(Ảnh sưu tầm) |
1. Quán trà ấy nằm ở góc
phố, quán rất nhỏ mang cái tên “Năm xưa”. Năm xưa, năm xưa, người đọc lên lại
thấy phảng phất biết bao kỷ niệm ùa về. Chủ quán là một cô gái độ hai lăm hai
sáu, thường mặc một chiếc áo dài kiểu cổ màu xanh trứng sáo, mái tóc đen dài
luôn kẹp hờ sau lưng, ánh mắt lúc nào cũng bình thản an nhiên dường như thấu
triệt mọi thứ trên đời.
Khách đến
quán chủ yếu là khách quen, mà khách mới đến lần đầu cũng đều phải tìm đường
quay lại. Bởi trà, bởi người, bởi hoa. Chủ quán bảo ấy là trà duyên, mỗi một
con người sinh ra trên đời nếu đã vương duyên với trà tức là đang muốn tìm về
một cõi yên tĩnh, nảy trong lòng một chút thiện tâm giữa vòng xoáy hồng trần.
Ngồi trước ấm trà, tĩnh tọa giây lát, nhìn vào những lá trà xoay tròn rồi chìm
dần xuống, người ta bỗng nhìn thấy được cả kiếp trước, đời sau của mình. Có
người hỏi chủ quán, cô chỉ cười bảo:
– Ấy là trà
duyên.
***
Trời đổ cơn
mưa, anh và em tìm chỗ trú chân ở trong quán trà nhỏ. Đôi ta đến đây mới lần
đầu. Quán trà mang đậm phong vị cổ kính, dường như rêu phong thời gian đã bám
dày trên từng chiếc bàn gỗ sẫm màu, từng chiếc mành chạm họa tiết hoa mai ngậm
sương, những đóa sen trắng dường như chẳng bao giờ úa tàn. Chao ôi, cái màu
trắng thanh tân ấy khiến anh nhớ đến ngày mình gặp nhau. Tương phùng do duyên,
duyên phận trong đời như nước chảy, người đến kẻ đi, vậy mà anh lại bị đôi mắt
em thu hút.
Chủ quán đợi
cho chúng ta kịp trao nhau ánh mắt mới bước ra ôn tồn hỏi han. Anh là người
không thích trà, còn em thì khác. Anh không biết làm sao đành gọi thứ trà sen
mà em yêu thích nhất. Cô gái trẻ cẩn thận đặt bộ trà cụ xuống, để cho khách tự
pha, anh hỏi vì sao, cô mỉm cười bảo:
– Để biết
cách nâng niu từng mối duyên phận.
– Nhưng tôi
không biết cách pha trà.
Cô gái trẻ đặt tay lên
ngực mình, nụ cười trên môi càng lúc càng dịu dàng. Trong thoáng chốc ấy anh
như hiểu ra, anh không cần phải tráng ấm chuyên trà, chỉ pha một chén mộc mạc
theo đúng lòng mình mong muốn. Em ngồi đó, chống cằm nhìn anh lóng ngóng, trà
vương vãi ra bàn. Trông anh như một chú bé đang chơi đồ hàng cùng bọn con gái
thuở ấu thơ. Trà pha ra, nước xanh trong như cõi trần vô dục, hương thơm thoảng
qua giống như mùi tóc em xao xuyến.
 |
Phan Nam và Quỳnh tại nhà sáng tác Đà Nẵng, 04.05.2018. |
Giữa xô bồ, ta trao cho nhau một chén trà trong, em và anh không cần kiểu cách, dốc cạn cả lòng nhau. Anh và em đưa mắt nhìn nhau, khoảnh khắc ấy chừng như hàng thế kỷ, liệu đôi ta có thể ngồi như vậy mãi hay không? Ngoài kia đầy huyên náo, anh chỉ muốn trốn ở chốn này, trốn vào trong lá trà, ấm tách, tự giữ cho mình một thoáng bình an. Anh sợ hãi những gương mặt ngoài kia, anh sợ hãi những con người với tấm lòng bon chen không ngớt. Dừng lại một chút thôi em. Ngày mai anh sẽ trở về, là một nhà văn âu lo cùng cơm áo gạo tiền, em sẽ trở về là một cô gái lãng mạn đa sầu. Hai thứ đó bổ trợ cho nhau, và chờ khi chúng ta về chung một lối. Liệu trăm năm còn có đủ? Anh gõ nhẹ mặt bàn,
chén trà rung khẽ, từng xoáy nước hút hồn anh, anh và em cùng nhìn vào trong
chén. Thấy hiện lên cảnh non sông tráng lệ. Trời đang về đêm, trăng sáng thấu
tỏ, giữa nhà tranh vườn quỳnh có một văn sĩ đang ngồi trước bàn viết. Chàng
ngắm nhìn đóa quỳnh trông trăng say đắm, chốc chốc lại họa lên trang giấy những
giòng chữ tài hoa. Giữa ánh trăng mờ ảo say lòng, bên kia sông đang chìm trong
ánh sáng điện đường, ánh sáng giả tạo của những kẻ ham vinh hoa phú quý…
Đêm
buông xuống, vầng trăng trong trẻo hào phóng ban cho nhân gian muôn sắc
ngọc, Hà Nội đã lui về sau một ngày hối hả nhuốm mùi thuốc súng
và dây thép hòng nghỉ ngơi dưỡng sức. Để rồi bước ra trong vẻ ngoài
bảnh bao với những bộ trang phục lộng lẫy, nhón chân vào Thuỷ Tạ,
Khâm Thiên, ngây ngất trong tiếng đàn ca sênh phách cùng những phồn hoa
một thời.
Những câu
chuyện đó đã lùi về một thế giới khác – một thế giới mà văn sĩ
coi là truỵ lạc, bê tha. Chàng giống như một nhà Nho sinh nhầm thời,
cả ngày vui với sách vở cổ kim, nhìn cảnh bàn tay ngoại bang cày nát
non sông mà chỉ biết nhỏ lệ thở dài. Văn sĩ sống ẩn dật, lánh khỏi
con người và cả cái công nghệ của thời thế, chỉ ham hương sắc dạ
quỳnh. Chàng không ưa nên nàng cũng ghét lây, chỉ ngẩng cao đầu kiêu
hãnh trông về phía đèn hoa rực rỡ ngập mùi rượu cồn và thuốc
phiện. Văn sĩ sống thanh cao bên Quỳnh, nàng là cảm hứng và tình yêu
của những trang văn thấm đẫm hơi thở thời cuộc.
Chàng đặt cho
nơi mình sống một cái tên thật kêu, thật cổ: Quỳnh Uyển. Quỳnh Uyển
mà duy có nàng thôi. Đêm nay chàng lại đọc những trang văn mới viết
cho Quỳnh nghe, nàng là độc giả đầu tiên của văn sĩ.
Bao giờ
cũng vậy, Quỳnh sẽ ngồi đó ngẫm ngợi, thi thoảng mỉm cười đàm luận
đôi câu. Ngoan ngoãn và dịu dàng. Hương thơm từ suối tóc nàng làm
chàng ngây ngất. Văn sĩ lấy làm hài lòng, chàng viết rất nhiều, từ
những kẻ ăn mày cho tới các vị quan tai to mặt lớn miệng quát Xà –
lù – mẹc. Thế giới này sinh ra là để nằm gọn trong trang viết của
chàng, sống vì chàng.
Văn sĩ đặt
bút xuống, chấm một nét đầu tiên, chàng lại viết. Chàng sẽ viết gì đây? Quỳnh
khe khẽ cúi xuống, để cho mái tóc mềm sượt qua vai chàng. Tứ văn bay bổng,
những con chữ giăng hàng trên trang giấy, chàng đang ở nơi nao?
– Những câu
chuyện của anh luôn khiến em hoảng loạn. – Quỳnh bảo.
– Em xem,
trăng kia có mấy khi tròn. – Văn sĩ cười.
Trời tang
tảng, Quỳnh lui vào đài hoa, nàng ủ rũ nói:
– Em e sợ
những kết thúc không viên mãn, em sợ sự điên cuồng trong đó.
– Cuộc đời
của chúng ta chẳng phải luôn điên loạn đấy sao. – Văn sĩ mơ màng.
Văn sĩ yêu
Quỳnh nhưng nàng mong manh quá, yếu ớt quá, mấy ngày nay tấm áo xanh
của nàng đã xuống màu hẳn, vàng vọt như cát pha, khuôn ngọc cũng
nhợt nhạt đi. Chàng đau lòng nhìn Quỳnh đang gượng cười với mình rồi
đứng lên xoa nhẹ gò má trắng nhợt của nàng. Dưới ánh trăng khi tỏ khi
mờ, đêm dài sắp hết, Quỳnh bỗng buồn rầu lưu luyến. Để rồi nhành ngọc cứ rũ mãi
xuống, cánh hoa rụng hết thảy. Kiếp quỳnh hoa đêm nở ngày tàn, kiếp hoa
mong manh.
Văn sĩ
khóc nấc lên khi người yêu về với chúa hoa. Quỳnh bị trời xanh giày
xéo, thanh bạch một đời, nay chỉ trơ lại vài đốt tay rỉ máu, cánh
hoa trong trắng tinh khôi còn đượm hương lẫn vào bùn đất. Văn sĩ nâng
xác nàng lên, tắm rửa cho nàng dưới sự chứng kiến của Nguyệt Thần,
chàng cầm lòng không đậu, cớ sao cái đẹp cứ bị trêu ngươi?
Sông núi
trải bao còn, giang sơn đã đổi chủ, Quỳnh Uyển xưa nay vùi thây trong
lòng đất dưới sự tàn phá khốc liệt của thời gian để lưu lại cái
hào hoa trăm năm trước. Sau ngày Quỳnh mất, văn sĩ cũng thành người
thiên cổ. Người tri âm đã đi còn cầm bút làm gì? Lòng tiếc hoa lùi
vào dĩ vãng. Từ bờ sông Hồng trông ra, vườn cũ chỉ còn là một cái
gò nhỏ mà cỏ dại mọc tràn.
Anh ngẩng
nhìn em, thấy đôi mắt em đã đẫm lệ. Ai từng bảo trà khiến ta tìm được kiếp
trước kiếp sau. Anh kiếm tìm chủ quán, mong giãi bày đôi câu. Cô gái trẻ vẫn
mỉm cười hiền dịu, đặt tay lên trái tim mình, đáp:
– Ấy là trà
duyên.
2.
Sau cơn mưa,
hôm sau nắng đã đổ lên thành phố. Bất giác lại đem đến chút yên bình thoáng
qua, hơi sương còn đọng trên những tàng cây rộng, lấp lánh như ngọc. Khách vào
quán là một chàng trai trẻ, trong đôi mắt còn vương nét sầu bi. Ngày ấy, anh
hay đưa người thương đến đây để tìm khoảng không gian riêng tư cho chuyện tình
đẹp tưởng như vĩnh cửu. Vậy mà giờ đây chỉ riêng người lẻ bóng.
Chủ quán đưa
ra một chén nước trong, bên cạnh chẳng có trà cụ hay chỉ một lá trà duy nhất.
Khách ngước mắt nhìn cô thắc mắc, chủ quán vẫn nở nụ cười nền nã trên môi. Chén
nước sôi thoáng bỗng run lên rồi trong các vòng xoáy hiện ra cảnh người ở kiếp
trước:
Sân
khấu rộn tiếng cười, đậm nét phồn hoa thuở thịnh thế, màn nhung vén lên, đèn
nến vụt tắt, để lộ ra bóng tài tử giai nhân. Hóa ra họ đang diễn một khúc Lã Bố
hý Điêu Thuyền. Người xem kịch im lặng, đắm mình vào chuyện tình thê lương. Kỳ
lạ thay, giữa lúc ấy, Điêu Thuyền chẳng màng đến Lã Bố, chỉ đau đáu ngắm nhìn
một chéo áo xanh. Mà chéo áo ấy thuộc về một thư sinh nho nhã, năm nay chàng
lên kinh dự thi, tạm thấy chốn hào hoa mà đặt chân tới. Ánh mắt họ chạm nhau,
thoáng chốc đã được khắc ghi đến suốt kiếp.
Nàng thẹn
thùng dùng vạt áo giấu đi gương mặt. Liệu chàng có đang nhìn ta chăng? Nếu
chàng động lòng, vậy thì vì ta hay vì phấn son châu ngọc? Nho sinh ngước mắt,
tự nhủ rằng nụ cười ấy dành cho ai? Tiếng tục khách lao xao bên tai, hay nàng
đang động lòng vì ai khác? Vậy là, chàng quay lưng rời gót.
Họ gặp nhau
một lần nữa ở trước bảng vàng, nhưng vị tân Trạng Nguyên lại lặng lẽ đi lướt
qua nàng. Nhà vua đã ban hôn ước cho chàng và công chúa, nho sĩ đã quên ánh mắt
trên sân khấu hôm nào. Duyên phận được se trong thoáng chốc, tan thành mây
khói. Điêu Thuyền thấy hụt hẫng, bỗng chốc dầm dầm lệ sa. Cứ như thế, hai người
để lỡ mất nhau...
Khách thấy
trái tim đau nhói, tất thảy sự không bằng lòng trên thế gian đều đến từ nhân
quả kiếp trước. Bấy giờ chủ quán mới đặt xuống bàn một bình trà xanh trong vắt,
khách bỗng chốc tỉnh ngộ. Nhân sinh chẳng phải cũng giống như trà hay sao…
3.
Phố chuyển
sang đêm, ánh sáng ban ngày đã bị thay thế bởi đèn điện le lói đủ mọi màu sắc.
Thủ đô là nơi nuôi dưỡng ước mơ cũng là nơi nhấn chìm biết bao nhiêu số phận.
Có người lên, kẻ xuống, người đến, kẻ đi, nhưng cho dù tất thảy đều nhận ra
điều bi kịch thì vẫn tình nguyện nhắm mắt bước vào, chỉ vì một thoáng phồn hoa.
Trăm năm cũng chỉ như cát bụi, cớ chi mà cứ mãi bon chen?
Trăng lên,
dòng ngân hà nghiêng nghiêng. Từ chín tầng trời, dòng thác trăng đổ xuống trùm
lên thành phố.
Ở đây, người
ta đã thôi ngắm trăng. Có lẽ bởi ánh đèn, hoặc bởi đã không cần tri âm nữa.
Trăng chỉ tỏ khi thấy tri âm, nước mắt ngàn năm của vầng trăng ấy có ai từng
thấu hiểu?
Ngoài ban
công của quán trà, văn sĩ im lặng ngắm trời cao. Có một ngôi sao sáng tỏa trên
đầu, bỗng nhiên lóe lên giống như giọt lệ của thần linh kết đọng cả vạn thế kỷ.
Tay anh hơ trên miệng chén trà, để làn hương ấm áp ngấm dần vào thể xác và linh
hồn. Trăng đang rầu rĩ, bỗng nghển cổ mà trông. Ai từng bảo ánh trăng lạnh lẽo?
Có chăng cũng chỉ lạnh với tục nhân. Văn sĩ buông tiếng thở dài.
Chủ quán
đứng bên giò địa lan đương trổ, lặng lẽ trông về phía ban công. Nỗi đau của
những kẻ sinh nhầm thời đã biến họ trở thành tri kỷ. Văn sĩ nhìn vào từng xoáy
nước ngày một dày đặc trong chén trà, giống như bão lòng của chính bản thân.
Anh thấy bóng áo dài cùng với nụ cười nền nã, đôi mắt ấy giống như thấu triệt,
soi sáng cả tâm linh bụi bặm của thế gian.
– Đời thì
bạc. – Văn sĩ bảo.
– Chuyện đời
có mấy khi toại lòng người? – Chủ quán cười.
– Chúng tôi
nhếch nhác lắm phải không cô? Sống trong cái thời nhiễu nhương này, những văn
nghệ sĩ có tâm thì khổ.
– Ai cũng có
sứ mệnh của riêng mình, chi bằng cứ nghĩ như vậy cho thỏa lòng.
– Đời đáng
cười. Những người khắc khoải cả đời với chữ như chúng tôi thì cứ chịu đày đọa
mãi, quả đúng là phận giời hành. Kiếp sau xin đừng làm thân phu chữ!
Mùi trầm nhẹ
tỏa, chủ quán mỉm cười bốc một nắm trà cho vào trong chén, nước sôi dội lên,
những lá trà chịu đựng rồi nở ra. Chìm nổi mấy phen, nước trà tỏa hương ngan
ngát, trong vắt như sương. Cô vuốt lại nếp áo, im lặng. Chén trong tay văn sĩ
khẽ run lên, bên trong hiện ra ánh mặt trời xán lạn. Dưới ánh mặt trời ấy, có
một cây hoa đào đang mãn khai rực rỡ. Văn sĩ trầm trồ, không nỡ dứt khỏi những
cánh hồng của thuở xuân sắc. Ấy vậy mà, chớp mắt, giông bão nổi lên vùi dập tất
thảy. Gốc đào chỉ còn trơ lại cành lá xác xơ, hoa nát thành cát bụi rắc rụng
đầy mặt đất.
– Sự sinh và
tử, được và mất cách nhau chỉ trong gang tấc, buồn vui chuyển hóa, họa phúc
không ngừng. Trong vòng xoáy này, nỗi buồn của chúng ta là một thứ xa xỉ phẩm,
ai cũng đáng thương, ai cũng bế tắc. Cớ chi cứ phải đày đọa mình mà không thể
sống ung dung tự tại, không lo sợ trước bão giông, giữ lấy một tấm lòng trong
thiên hạ, tránh khỏi những sự chướng tai gai mắt giữa buổi nhiễu nhương?
Văn sĩ sững
sờ, vụt ngoảnh nhìn chủ quán. Cô mỉm cười nền nã, đặt tay lên trái tim.
Trà duyên…
Duyên đến vì trà, cuộc đời của con người đều nằm trong chén trà ấy. Lần đầu
tiên, văn sĩ thấy mầm sen trắng nảy ra trong lòng, mái tóc huyền vương vấn đâu
đây và ánh trăng bỗng chốc từ bi chiếu tỏa gột sạch bụi bặm trên thế gian này…
Comments[ 0 ]
Post a Comment
Quý vị chỉ cần copy link hình và dán vào ô comment.