Khúc bolero cho em - chùm thơ Trúc Thanh Tâm

10:45 AM |
Ảnh sưu tầm.
KHÚC BOLERO CHO EM

 Tóc dài và mắt em xưa
 Người đi buổi đó vẫn chưa thấy về
 Tháng mười mưa gió lê thê
 Ai còn hát khúc Bolero buồn

 Chiều nay đón nhỏ tan trường
 Mai kia mốt nọ đâu còn đón đưa
 Nhớ lần hai đứa trú mưa
 Nhỏ cứ sợ ướt nép vừa vào tôi

 Ngoài trời nặng hạt mưa rơi
 Lòng tôi nhỏ biết đầy trời bão giông
 Nhỏ ôm kỷ niệm sang sông
 Nhỏ cười hay khóc khi lòng tôi đau

 Xin đừng dỗ ngọt đời nhau
 Nhớ quên rồi cũng một màu thê lương
 Có ai qua khúc sông buồn
 Vớt trăng chết đuối giữa trường giang, sâu!

 THIÊN ĐƯỜNG TRÊN MÂY

 Cầu vồng mở đường cao tốc
 Cho ta về lại cõi tiên
 Thánh thần để rồi cũng khóc
 Đời nhau bảy nổi ba chìm

 Sống làm sao không thiếu sót
 Bao đồng mà chẳng lo xa
 Bỏ quên một rừng trí thức
 Chôn vùi hương sắc muôn hoa

 Lời hứa là thứ rẻ nhất
 Đi sau giọng nói tiếng cười
 Niềm tin là thứ đắt nhất
 Khi mình đã chọn sân chơi

 Nếu biết đời là cõi tạm
 Tính toán hơn nhau cái đầu
 Sao cứ mơ làm thần thánh
 Đưa người vào cuộc bể dâu

 Vén mây nghe chiều lưu luyến
 Vườn đào hoa lá xôn xao
 Cõi tiên có người rơi lệ
 Về trần ta thấy lòng đau

 MIỀN TRUNG NƯỚC TÔI 

 Tôi lặng người theo tiếng sét thinh không
 Đồng bằng hổm rày mưa dầm thúi đất
 Nắng mệt mỏi mặt trời đi trốn biệt
 Thì làm gì có nắng ấm miền Trung

 Dãy đất thân yêu, cơn bão lũ tột cùng
 Cuốn theo hết biết bao người và của
 Thượng Đế hỡi, dân tôi chưa hết khổ
 Lại nhận thêm bao thảm họa trái ngang

 Nước lũ dâng cao hay nước mắt tủi hờn
 Cuộc sống mong manh bên thềm bóng tối
 Những gương mặt cứ hằn sâu kinh hãi
 Quỳ lại trời xin được chút mưa ơn

 Đất nước Rồng Tiên còn trăm khổ ngàn buồn
 Khi hạnh phúc bị cuộc đời xé rách
 Bởi sự thật chưa bao giờ có thật
 Tự dối mình và lừa dối lẫn nhau!

TRÚC THANH TÂM

Xem tiếp…

NGỦ RỪNG - tản văn của Phan Nam.

4:35 PM |
1.
Tôi rất phục bố tôi ở cái khoản “ngủ rừng”, nghĩa là có thể ngủ liền mấy đêm trong rừng sâu và chỉ một mình. Chỉ cần mắc võng lên và chui vào, đốt một đống lửa trại thật to để sưởi ấm là có thể yên giấc. Những người gắn bó với rừng có thể hiểu rừng đến nỗi mỗi âm thanh vọng lại, mỗi bóng hình chập chờn đều không thể làm tan biến nỗi sợ hãi đã ăn sâu vào từng thớ thịt. Ngày xưa, rừng ở quê tôi được khai thác rất chọn lọc, chỉ có chọn cây to và hoàn toàn bằng thủ công, dùng rìu để đốn cây. Vì thế, những người thường xuyên đi rừng như bố tôi có thể biết chính xác chỗ nào có cây, có gỗ trong rừng. Đặc biệt vào mùa mật ong rừng, chuyện ngủ rừng của bố là điều thường xuyên như cơm bữa. Ngày bố trở về sau chuyến đi dài là ngày đặc biệt thu hút đối với lũ trẻ chúng tôi, vì chiều bố sẽ cõng về tầng ong non và sáp ong đã được vắt đi, nhưng vẫn còn nồng đượm mật ngọt, bỏ vào môi sẽ cảm nhận tinh túy hương hoa của đất trời đang thấm trong huyết quản. Tôi là đứa con của rừng và từng nhiều lần ngủ trong rừng nhưng nỗi sợ thì vẫn còn xâm chiếm đến nỗi từng dấu chân, từng hơi thở xoáy sâu trong cơn mê sảng. Ngủ rừng và kiếm tiền từ rừng không phải là chuyện dễ dàng, nó thường được đánh đổi bằng máu, mồ hôi và nước mắt. Có lẽ vì thế mà bố tôi có thể nhấm rượu như uống nước suối, nói chuyện thâu đêm suốt sáng trong khi cây cối đắm chìm vào cơn mơ tự lúc nào. Điều đặc biệt nhứt với tôi là đêm đêm lên đỉnh đồi có thể trông thấy thành phố Tam Kỳ rực sáng bàng bạc phía xa xa trong ánh điện mặc dầu khoảng cách ngắm nhìn không phải là gần. Ngủ ở rừng thì có chuyện gì để nói, nếu không phải là đắm chìm sự mệt nhọc hằn lên thân xác, mà chưa biết đến bao giờ mới được giải thoát. Rừng đối với tôi, vẫn là một nơi bí ẩn ghê gớm lắm, trên mặt đất không có đường người ta đi mãi rồi thành đường mòn, và chính những con đường mòn chằng chịt xa xôi ấy đã nuôi chúng tôi khôn lớn, bay đến bầu trời thành phố. Quả là những con đường kỳ lạ...
2.
Ở quê tôi, bây chừ chuyện lên rừng không còn khó khăn như trước, kể từ khi phong trào trồng keo nở rộ. Tôi nghĩ, ở miền đất trung du khô cằn sỏi đá, không còn cây nào phù hợp hơn cây keo. Và kể từ đó, từng tấc đất từ làng lên đến bìa rừng trở nên quý giá hơn bao giờ hết, khi vào ngày nông nhàn không còn phải th hương cầu thực vì chuyện đi xa đã nhường lại cho con cái của họ. Người dân tiếp tục ngủ rừng để làm rẫy, ngủ rừng để trồng keo, cho đến khi khai thác keo... có lẽ giấc ngủ của họ đã gắn chặt với rừng. Bây chừ, nhìn những mảng xanh bạt ngàn của keo, tôi lại cảm thấy vui, bởi vì nếu không có keo, thú thực lên rừng cũng chẳng biết trông chờ vào điều gì. Có thể ở phố nhìn vào những mảng xanh thấy lòng mình thanh thản dịu êm nhưng ở rừng nhìn màu xanh cây lá lại thấy lòng buồn nhiều hơn vui. Dòng chảy của rừng đã phủ lên nỗi khát khao kiếm tìm tương lai tưởng chừng như xa xôi mà cũng gần gụi lắm. Tôi nhớ, thuở nhỏ, có lần tôi phải ngủ ở rừng mấy đêm liên tiếp để giữ lúa. Hồi ấy, nhà tôi còn làm lúa nằm sâu trong rừng, nơi có con suối ngày đêm rì rào chảy. Và lũ chim sẻ đông đẹt ấy bay xuống ruộng phá lúa đến giờ vẫn còn ám ảnh trong tâm trí tôi. Làm lúa để kiếm miếng ăn nhưng bây chừ lúa thóc cũng không còn quan trọng nữa nên ước mong về cây keo có lẽ là suy nghĩ thiết thực nhất. Trồng keo, dễ trồng, dễ chăm sóc, lại thích hơn với địa hình đồi gò, hang hốc, đá sỏi... Nhưng có lẽ, cây keo còn ở phương trời nào xa vời lắm, vì khi thu lợi từ cây keo thì chắc chắn đến một lúc nào đó, ta cũng sẽ phải trả giá. Hồi nhỏ ngủ trong rừng, tôi bị con ma đuổi bắt, may mà con ma chỉ hiện diện trong giấc mơ...
Đà Nẵng, tháng 09.2017
PHAN NAM

Xem tiếp…

Giới thiệu tuần báo văn nghệ TP HCM số 470 - ra ngày 05.10.2017

9:27 AM |
Tuần Báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh
LIÊN HIỆP CÁC HỘI VĂN HỌC - NGHỆ THUẬT TP.HỒ CHÍ MINH
Số 470, ra ngày thứ năm, 05.10.2017.
Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh:
. Mấy vấn đề lớn trong “Sử đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh / Đào Ngọc Đệ.
Truyện ngắn:
. Nỗi đau / Phụng Tú.
. Cưới tháng Ngâu / Lê Ngọc Minh.
. Hoa hướng dương / Nguyễn Trần Bé.
. Niềm tin / Bùi Thị Thu Hằng.
Tạp bút:
. Thầy tôi và những chiếc lồng đèn / Y NGuyên.
Thơ:
. Hoài niệm / Nguyễn Hồng Vinh.
. Say say bốn mùa / Phạm Phương Lan.
. Con sóng vô bờ / Phạm Hồng Soi.
. Tình ca biển / Phan Nam.
. Hờn với nắng / Trương Nam Chi.
. Mẹ có buồn không? / Trần Ngọc Mỹ.
. Buổi sáng sài Gòn / Đỗ Tấn Thảo.
. Viết thay cho người tôi yêu / Khaly Chàm.
. Đêm nghe hát bài chòi / Trần Vạn Giã.
Góc nhỏ Sài Gòn:
. Nghệ sĩ mặt nạ / Đoàn Đại Trí.
Văn học nước ngoài:
. Không thể tẩy sửa lịch sử chiến tranh Việt Nam / Robert Freeman, Ngô Mạnh Hùng (biên dịch).
. Sức sống trường tồn của một ấn phẩm / Juri Kozlov (Nga), Lê Sơn (giới thiệu và dịch).
. Maxim Gorki Ngọn cờ Văn học Cách mạng Nga / Hoàng Xuân Huy.
Từ trang tư liệu cũ – Trao đổi – Nghiên cứu – Lí luận phê bình:
. Nguyên bản Phạm Quỳnh (kỳ 3) / Năm Châu Đốc.
. Mấy vấn đề nhờ GS. Phan Huy Lê giải thích… / Giá Khê.
. Về quan điểm cho rằng Nguyễn Ánh thống nhất đất nước / Nguyễn Văn Toàn.
Bút ký, ghi chép, hồi ức, chân dung:
. Còn bao nhiêu Mẹ Liệt sỹ như thế / Hoàng Kim Hậu.
Văn chương và cảm nhận:
. “Đường trần” không đơn độc / Nguyễn Văn Thịnh.
Báo chí:
Điểm tin, bài văn hóa văn nghệ:
. Văn học nghệ thuật TP.HCM 30 năm đổi mới / Thanh Bình Nguyễn.
. Ngày Sân khấu Việt Nam 2017 / Cao Nguyễn, Ánh Tuyết.
. Đêm Ballet tại Nhà hát Thành phố / Nguyễn Minh, Kim Sa.
. Festival 20 năm Làn Sóng Xanh – Hành trình của những ngôi sao và người yêu nhạc Việt / Đam Thy, Kim Thanh.
. 7 tour đường sông mới của SaiGontourist / Đông Lan, Thanh Thảo.
. Kỷ niệm 27 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Liên bang Đức: Triển lãm sách Đức và khai trương gian hàng sách tiếng Đức / Nguyễn Dương, Châu Huỳnh.
. Đọc “Những thành phố trôi dạt của tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên / Lê Văn.
. Thiết kế sản phẩm tuyên truyền phổ biến giáo dục luật pháp – Một cuộc thi có ý nghĩa / Dương Đông.
. Giải Marathon quốc tế TP.HCM / Quốc Phú, Thùy Trang.
. Trung thu cho em / Phương Thảo, Lê Vy.
. Lễ Hội Nghinh Ông Cần Giờ 2017 / Thanh Vân, Hoàng Yến.
Viết ngắn:
. Tình thương; Nụ cười trẻ thơ; Chia sẻ / Thái Hoàng.
Kính văn nghệ:
. Từ nhảm tới mất phẩm chất / Tú Văn.
Thầy thuốc văn nghệ:
. U xơ tử cung / Bác sĩ Đào Ty Tách.
Blog Phan Nam.

Xem tiếp…

Mẹ ngồi xâu chỉ thềm trưa - tản văn Nguyễn Thành Giang

2:51 PM |
Trong kí ức của con, miên man chảy một dòng thời gian qua suốt tuổi thơ mình. Và, trong những khoảng thời khắc của giờ, của ngày, của tháng, của mùa đi, hình bóng mẹ vẫn chập chờn bên thềm nhà, trưa tháng 3 đầy nắng. Có khi là xắc mớ măng vòi, có khi vò lấy những hạt cải, hạt ngò làm giống cho mùa sau. Nhưng có lẽ, nhớ nhất vẫn là những trưa mẹ ngồi may áo bên thềm. Và, con luôn giữ một việc khá thích thú, ấy là xâu chỉ vào kim giúp mẹ. Nhà mình ngày ấy nền nhà đắp đất thôi, và tất nhiên, trước thềm hiên cũng là thềm đất. Mẹ thường ngồi trên chiếc ghế đẩu nhỏ và thấp. Chiếc ghế ấy ba tự đóng bằng những miếng gỗ tạp kiếm được về. Sau một buổi sáng vất vả ngoài đồng và dưới chợ, trưa của mẹ thường cũng không có một giây phút nghỉ ngơi. Áo quần của tụi con và của ba sờn rách theo ngày, mẹ đem ra ngồi vá lại hết. Mẹ ngồi tỉ mẩn với từng đường kim mối chỉ, khi cái nắng hè xoáy vào mái hiên, và những cơn gió trưa nhè nhẹ thổi. Thềm đất ấy, cơn gió ấy, cái nắng ấy đã quện sâu vào kí ức của con như một dấu ấn đẹp đầy thơ. Những ngày cái nghèo còn quẩn quanh bám lấy ngọn khói bếp, bám lấy gia đình mình và cũng bám lấy cuộc đời mẹ ba. Nhưng cũng những ngày ấy, con mới thực sự là một đứa trẻ vô tư, hạnh phúc nhất trong ngôi nhà nhỏ, trong vòng tay ba mẹ. 
Từ lúc còn lon ton lút chút chạy bám bên mẹ, con đã rất thích mỗi khi nhìn mẹ may vá quần áo chỉ bằng một cây kim và những bó chỉ trên tay mình. Bàn tay gầy gò, nhiều chai sần của mẹ trở nên nhịp nhàng lạ thường dưới con mắt đầy hiếu kì của con. Những buổi trưa của con bắt đầu không ngủ từ đó. Thấy con ngồi bên, chăm chú nhìn, mẹ lại xoa đầu mỉm cười. Và, với sự nghịch ngợm của mình, nhiều khi con làm cho mẹ hoảng lên và lo lắng. Bởi những khi có việc gì, mẹ chạy ra vườn hay xuống bếp làm gì đấy, con lại táy máy nghịch vào đống kim chỉ. Không ít lần, kim chích vào tay con khá sâu. Thằng bé nghịch ngợm hồi ấy chỉ biết khóc thét lên, như bắt đền mẹ. Thường thì lúc ấy, con vừa làm mẹ lo, vừa đánh thức giấc ngủ trưa ít ỏi của ba ngoài võng. Đôi khi, chính vì vậy, ngoài bị kim đâm, còn phải ăn thêm vài cái roi của ba. Lớn lên một chút, khi mắt mẹ ngày càng kém, thì con được mẹ giao cho nhiệm vụ xâu chỉ vào lổ kim mỗi khi mẹ vá quần áo. Thềm nhà sau nhiều năm bằng đất, cũng được lát xi măng mỏng. Nhưng trưa hè vẫn nắng, mẹ vẫn ngồi vá áo và không có một giấc ngủ trưa nào. Mỗi lần xâu chỉ giúp mẹ, con thấy lòng vui như làm một việc gì đó ý nghĩa lắm. Mẹ cũng mỉm cười bởi thấy con trai đã biết làm những việc nho nhỏ nhưng ấm lòng mẹ. Bởi ngoài mắt mờ đi, đôi tay mẹ cũng dần run theo thời gian. Không có các con xâu chỉ giúp, mẹ sẽ rất khó khăn trước khi vá được những cái áo, cái quần cho cả gia đình. Với còn, những trưa hè như vậy còn đọng mãi trong trí nhớ của mình. Sau khi xâu chỉ xong, con còn ngồi bên, xếp lại những bộ quần áo mẹ đã vá xong, để mẹ bớt thêm một chút vất vả. Bao tháng ngày đi qua, con dần lớn lên và trôi dần ra khỏi bờ tre, mảnh vườn nhà mình. Những cuộc mưu sinh, những chuyến đi xa đã làm con không có thời gian gần gũi với đường kim mối chỉ của mẹ. Hiếm hoi lắm con mới có một lần ngồi xâu kim giúp mẹ. Còn có lẽ, những lúc vá quần áo cho gia đình, mẹ phải tự lần mò rất khó khăn cũng như tốn rất nhiều thời gian. Nhiều khi, lang thang trên một vùng quê lạ, trưa nắng hè, ngồi nhìn một người phụ nữ nào đó bên thềm nhà vá áo, lòng con lại nghĩ rưng rưng. Biết đâu, chính thời khắc ấy, mẹ cũng đang ngồi một mình vá áo bên thềm trưa nhà mình. Và cũng biết đâu, lúc ấy, mẹ lại nghĩ về đứa con mãi lang bạt giữa đời chưa có điểm dừng. Quê nhà nhiều khi hiện về trong trí nhớ con, khuất sau xa lắm những ngôi nhà cao tầng, những phố xá bon chen, những nẻo đường hun hút mù mù gió bụi.
Nắng đã phả những dòng hơi nóng xuống khắp những miền đất quê hương. Con về lại nhà, ngồi giữa cái nắng quê mà lòng bùi ngùi nhớ cái thuở xâu chỉ luồn kim giúp mẹ. Thời gian thì mãi miết trôi đi với những biến động khôn lường. Giờ, khi đời sống cũng đã khá lên một chút, áo quần cũng không đến nỗi rách nhiều như ngày trước, thì việc mẹ ngồi vá áo vá quần mỗi trưa cũng thưa thớt hẳn đi. Giấc ngủ trưa của mẹ cũng đã có trong lịch làm việc một ngày nhà nông. Những vất vả gian lao của mẹ dù chỉ mới bớt đi một phần nhỏ, nhưng cũng làm con cảm thấy vui và tạm yên lòng. Con cứ chờ một buổi trưa nắng hè, được ngồi bên, được xâu chỉ giúp mẹ như những ngày thơ bé. Để thấy lòng nhỏ lại. Để cảm nhận được những niềm vui đơn giản nhưng rất quý của một thằng con trai dành cho người mẹ quê nghèo...

NGUYỄN THÀNH GIANG

Xem tiếp…

Dịu dàng dòng sông tuổi thơ... - bài viết Phan Nam.

9:23 AM |

Trở về tuổi thơ với những trang văn hồn hậu, thấm đẫm nghĩa tình, nhà văn Nguyễn Kim Huy đã đưa độc giả nhỏ tuổi khám phá những điều đặc biệt trong không gian làng quê qua tác phẩm mới “triền sông thơ ấu” (NXB Kim Đồng, tháng 06.2017).
Là “bà đỡ” của nhiều tác phẩm văn học, nhà văn Nguyễn Kim Huy cũng là một tác giả quen thuộc với độc giả qua sáu tác phẩm đã xuất bản với đầy đủ thể loại: từ thơ, truyện, tạp văn, chuyên luận văn học và tiểu thuyết. Và trên tay tôi lúc này là tác phẩm mới nhất của ông, tập truyện thiếu nhi “triền sông thơ ấu” bao gồm 10 truyện ngắn. Mỗi câu chuyện như một bức tranh đan xen những gam màu sáng tối được phác họa qua giọng văn trong trẻo, hồn nhiên và không kém phần dí dỏm. Được biết đến nhiều với vai trò là một nhà thơ, với những câu thơ duyên dáng, mềm mại: “Kìa cô bé ấy/ Nụ cười như hoa/ Kìa cô bé ấy/ Dáng người kiêu sa/ Kìa cô bé ấy/ Đẹp như trăng rằm/ Mắt nhìn đen láy/ Xinh như ngàn sao/ Tóc dài vai xõa/ Đẹp đến nao lòng/ Và cô bé ấy/ Chợt đến chợt đi/ Và cô bé ấy/ Thoáng gần thoáng xa/ Cái cô bé ấy/ Tên là Thi ca” (Kìa cô bé ấy). Có lẽ, chất thơ đã ngấm vào văn xuôi khiến cho mỗi câu văn ông viết chảy tràn vào tâm trí độc giả như một mạch ngầm trong trẻo và tươi mới. Những chữ giàu chất thơ hơn tính kịch có lẽ là một thế mạnh được ông khai thác triệt để trong tác phẩm lần này. Thơ ẩn hiện trong chuyện như một nỗi xúc động tự nhiên, nồng nàn, bởi vì ông chính là nhà thơ luôn mang đến hạt giống ươm mầm yêu thương: “Tình yêu học trò trong sáng đắm say chẳng bao giờ có dịp tỏ bày ấy đã mãi mãi còn lại trong tôi với tất cả sự tinh khiết, đẹp đẽ vô ngần của nó, “tôi vẫn nghĩ về em như nghĩ về hạnh phúc” dù “có thể suốt đời em không biết được tôi đâu”. Tác giả đã bước vào cái tuổi đã không còn trẻ nữa nhưng vẫn hướng ngòi bút về các độc giả nhỏ tuổi với thế giới tâm hồn phong phú, hồn nhiên nhưng cũng đầy biến động. Ở nơi đó, đồng Bộng hiện thật đáng sợ khiến thằng cu “lầm lũi đi như chạy trên cánh đồng Bộng. Đi một mình, lúc chạng vạng, lại đúng lúc trời mưa âm u xám xịt nữa chứ”. Thế giới tuổi thơ được tô vẽ trong nỗi sợ thêu dệt bởi muôn vàn câu chuyện ma mị, chuyện người lớn ra đường gặp ma, tối về ngủ chiêm bao thấy ma khiến cho cậu bé tái mét mặt mày. “Chúc thượng lộ bình an/ tau đi ngả ni có bông có hoa/ mi đi ngả nớ có ma đón đường” (đồng dao), không chỉ còn trong chuyện kể của ông nội, thằng cu gặp ma thật: “Lù lù sau lưng tôi mấy bước chân là một con ma lùn tịt, ngang phè, đầy người phủ một lớp lông lá xám xịt đang dềnh dàng bước tới”. Thằng cu co giò bỏ chạy trong nỗi sợ hãi tột độ, thế nhưng về nhà cậu mới biết là dì Hai Thời, người bà con xa đến thăm nhà. Mặc dầu không gặp ma “nhưng mấy cái bánh tráng nướng nát vụn ướt nhẹp đã nhão nhoẹt ra rồi”.
Truyện “triền sông thơ ấu” kể về kỷ niệm với con sông Trầu êm đềm thuở ấu thơ và con sông này cũng được gợi lại ở cuối tập sách trong không gian làng quê nghèo khó nhưng chứa chan nghĩa tình của tác giả, làng Đông An, xã Tam Mỹ Tây-Núi Thành-Quảng Nam. Những câu chuyện đẹp như thơ cứ hiện ra trước mắt qua những tái hiện chân thật, tinh tế của tác giả. Cậu bé tên Hanh tính tình hậu đậu, đụng đến đâu hư đến đó nhưng ước muốn giúp đỡ gì đó phụ mẹ vẫn chưa bao giờ nguội tắt trong cậu. May mắn thay, ông Sáu hàng xóm tốt bụng rủ cậu đi câu cá chung và lần đầu tiên cậu đã làm vui lòng mẹ. Để lại ấn tượng sâu sắc còn có nhân vật đặc biệt “Hai Kiểu” mặc dầu ông đã trở thành người muôn năm cũ nhưng vẫn sống giữa làng như minh chứng cho một thời nghèo khó, đói kém nhưng những người sống trong đó luôn bao dung lẫn nhau, sẻ chia biết bao niềm vui nỗi buồn. Ước mơ giản dị ngày ấy sao mà bùi ngùi, thương cảm đến thế, cho nhân vật “tôi” trong truyện hay cho chính tác giả giữa bao phiền muộn trong đời: “Và ngày ấy, cái ước mơ cao xa cháy bỏng trong lòng tôi, luôn thôi thúc trong tôi không phải điều gì khác hơn là... một chiếc xe đạp. Phải, một chiếc xe đạp, dù chỉ cọc cạch đôi bánh chắp vá và cái sườn xe trơ trọi như đôi đứa bạn bè may mắn của tôi, để đến trường. Bao đêm hình ảnh chiếc xe đạp hiện lên trong giấc mơ của tôi, quyến rũ và ngọt ngào biết bao” (Tôi đi học). Những giấc mơ dịu dàng trong trẻo cứ lần lượt hiện về cho một thuở khó khăn, gian truân nhưng cũng lắm kỷ niệm và khát khao. Chợt nhớ đến “giấc mơ bay” của nhà văn Hoàng My mà tôi tình cờ đọc được: “Tôi lớn lên ở miền Trung. Những năm đó, họa hoằn mới thấy máy bay. Thậm chí cả máy bay trên ti-vi cũng là điều xa xỉ (...) Nên chỉ cần nghe tiếng ầm ì mơ hồ đâu đó, là cả bọn con nít hồ hởi chạy ra sân, ngước mặt lên trời, loay hoay tìm kiếm. Bầu trời ngày đó rộng và xanh kỳ lạ, vời vợi ngày nắng ráo”. Hình như, những giấc mơ tuổi hoa tái hiện trong ký ức luôn xao động và có sức quyến rũ kỳ lạ, thực khó lý giải về một miền tuổi thơ còn đang “mải miết trôi”, và chưa bao giờ dừng lại.
Nhà văn Nguyễn Kim Huy
Trong tập truyện ngắn “triền sông thơ ấu”, tôi cũng rất ấn tượng truyện “mây bay về phía hòn Rơm”, kể về cây khế kỷ niệm trong khu vườn nhà đã được ông Nhàn bán đi và sau đó vì người con trách móc mà lão ngã bệnh. Nhưng trong cái rủi có cái may, khi nhân duyên giữa lão Nhàn và bà Tư được vun đắp khi hai người tuổi đã vào tuổi xế chiều. Nhân, cậu con trai muốn bù đắp cho cha mình những ngày tháng cô lẻ nuôi con nên quyết tâm tổ chức đám cưới, mà theo tác giả mô tả đó là “đám cưới có một không hai tự cổ chí kim ở làng Đông Mỹ này”. Câu chuyện với câu hát về của lũ trẻ đã khơi gợi biết bao ân tình da diết thuở xưa “cô dâu chú rể làm bể bình bông” ăn sâu vào tiềm thức biết bao thế hệ tuổi thơ. Xuyên suốt tập truyện là một không gian làng quê đầy ắp nghĩa tình, với biết bao yêu thương được bồi đắp từ phù sa sông Trầu. Với giọng văn nhẹ nhàng lắng đọng, đôi khi tung tẩy hài hước để lại nhiều dư vị đẹp trong lòng người đọc. Đôi lúc, tác giả chưa tiết chế cảm xúc nên câu văn lan man dài dòng, mạch truyện dàn trải và cũng chưa thực sự cuốn hút. Thế nhưng, với những ai đã sinh ra từ dòng sông, đang sống với những yêu thương ngọt ngào thì cuốn sách chính là quà tặng đầy dịu dàng và ý nghĩa. Như trong hai câu thơ của tác giả Nguyễn Kim Huy từng viết: “Quê nhà chưa đến mùa gặt hái/ Ngày đã thơm trái quả ngọt ngào”.
Tiên Phước, 19.09.2017
PHAN NAM.

Xem tiếp…

Giới thiệu tạp chí Đất Quảng số 162 - tháng 10.2017

9:46 AM |
MỜI ĐỌC TẠP CHÍ ĐẤT QUẢNG SỐ 162
Tạp chí Đất Quảng số 162 (tháng 10/2017) phát hành ngày 10/10/2017 với các nội dung sau:
* Phần VĂN XUÔI giới thiệu truyện ngắn của các tác giả: Trần Quốc Cưỡng (Chuyện ở núi Thanh Phong); Hương Văn (Người hai quê); Phạm Thị Hải Dương (Ở Trại Điên). Cùng với đó là ghi chép “Hà Giang mùa không lễ hội” của Lê Trâm và tản văn “Mẹ ngồi xâu chỉ thềm trưa” của Nguyễn Thành Giang.
* Phần THƠ với sự góp mặt của các tác giả: Nguyễn Giúp (Đêm xa quê gặp người anh Quảng Nam); Nguyễn Hải Triều (Đại Bường); Nguyễn Thánh Ngã (Nếp nhăn); Nguyễn Tường Thuật (Muống quê); Hoàng Tâm (Dòng sông tự tình); Mai Văn Hoan (Nhớ mẹ); Đào Thanh Sơn (Đôi mắt của mẹ); Nguyễn Thị Minh Thùy (Mẹ không biết dùng facebook); Vũ Thiên Tường (Mùa đông); Thụy Du (Phố lạc mùa); Trần Thanh Thoa (Mùa hạt nhớ lên đòng); Phan Nam (Buổi chiều); Nguyễn Chiến (Mưa thiếu phụ, Góc mưa); Mai Thanh Vinh (Đợi mùa, Ngày đông); Đỗ Tấn Đạt (Một lối về giữa Huế, Mùa tôi); Trần Võ Thành Văn (Những tiếng kêu, Cả tin); Lê Thị Điểm (Hẹn với Thanh Hà, Viết cho ngày sinh).
* Chuyên trang NGHIÊN CỨU-LÝ LUẬN-PHÊ BÌNH với các bài viết: “Mấy ghi nhận từ sân chơi mỹ thuật khu vực” (Võ Như Diệu); “Trinh Đường, từ "Hồi ức đầu thu" đến "Trò chơi phù thế" (Phùng Tấn Đông); “Khoảng trống tình yêu ngàn lần xao xuyến gọi...” (Lê Thành Văn).
* Chuyên mục ÂM NHẠC giới thiệu 2 ca khúc: “Ngọc Linh ơi mùa vui đến rồi” (Nhạc & lời: Lê Xuân Bá) và “Tình yêu Nam Giang” (Nhạc & lời: Trần Cao Vân).
* Chuyên mục VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI giới thiệu truyện ngắn “Cá hồi chấm hồng” của Tanaka Kõtarõ (Nhật Bản) qua bản dịch của Trương Thị Mai Hương.
* Chuyên mục TRÀ DƯ TỬU HẬU là bài viết “Tản mạn về narcissist” của Lê Đức Thịnh.
* Chuyên mục VĂN HỌC - HỌC VĂN với bài viết “Trung thu ngày ấy...” của Lê Thùy Liên.
Bìa 1 Đất Quảng số này là bức tranh sơn mài “Rằm tháng 8” của Lê Đình Chinh (tác phẩm đoạt giải Khuyến khích tại Triển lãm Mỹ thuật khu vực Nam miền Trung và Tây Nguyên mở rộng lần thứ 22-năm 2017). Phần tranh, ảnh phụ bản với sự góp mặt của Đoàn Minh Thuần, Lê Thắm, Trần Tấn Vịnh,
Nguyễn Thanh Thiệp và Nguyễn Điện Ngọc. Tham gia minh họa sỗ này là các họa sĩ Trương Bách Tường và Võ Như Diệu.

Blog Phan Nam.

Xem tiếp…

Tình ca biển - chùm thơ của tác giả Phan Nam.

8:30 AM |
TÌNH CA BIỂN
(quý tặng anh Hữu Phú, chú Nguyên Chương)

chưa kịp khắc tên bài thơ
bầu trời thành phố nặng trĩu nỗi niềm
người đàn ông đắn đo nhịp thở
bãi cát dài không một dấu chân

những con sóng bạc đầu
mơ màng nuôi dưỡng đức tin
nếu tình yêu là lẽ sống
sông Hàn ấm nóng cuộc vui

bản tình ca hòa nhịp bao lâu
lữ khách dõi mắt trông theo cánh chim trời
chạm trổ hoàng hôn tắt nắng
hình hài nào cho cơn mưa

viết cho những người đàn ông muôn đời lặng lẽ
gọi tên Đà Nẵng
trôi qua cơn mê...

NỖI BUỒN MÙA THU

không thể định hình nổi mùa thu
bên kia triền núi gầy guộc
ở nơi ấy ba tôi lưng trần chân cộc
vốc một nấm đất, gieo từng mầm non

cơn mưa trôi qua màu xanh héo hon
tôi bơi theo nỗi nhớ gãy vụn
ký ức ngày thơ bé lần lượt rơi xuống
không còn chỗ cho thi ca

quê mình mùa này ánh nắng nhạt nhòa
chập chờn sóng FM báo tin biển động
đám mây vắt ngang lán trại
gọi tên đỉnh núi từng làn mây trắng bay

khoảng trống đo đong giấc ngủ
con suối xuôi dòng
lắng nghe tình yêu lắng đọng
qua bao nhiêu thác ghềnh?

BÀI THƠ THÁNG CHÍN

tháng chín
tôi không còn thấy những bông hoa
tôi không còn thấy ngọn cỏ dại
tháng chín
khu vườn đang rơi tự do
tôi thấy bố mẹ tôi như đóa hoa mới nở

tôi reo lên
bằng nỗi xúc động của một đứa trẻ
thế giới chui tọt vào ngôi nhà nhỏ bé
và tôi không còn thấy
quả đồi phía sau lưng
đằng trước thăm thẳm màu xanh đại dương

những con sóng đã quật ngã tôi
bằng một hơi thở vĩnh cửu
bố mẹ cầm tay tôi lau nước mắt
cánh cửa tái sinh trong lòng đất

tháng chín
ban phát cho thế gian
những hạt thóc cũ mèm...

PHAN NAM.

Anh Hữu Phú (trái), chú Nguyên Chương (phải) và Phan Nam tại Đà Nẵng ngày 18.08.2017
Blog Phan Nam.
Xem tiếp…

Áo lụa phơi buồn - chùm thơ Trúc Thanh Tâm

10:40 PM |
Ở CỘT MỐC 241 VĨNH XƯƠNG
- tặng các chiến sĩ Biên Phòng cửa khẩu -

 Ta về thăm lại Vĩnh Xương
 Đứng bên cột mốc mà thương nhớ nhà
 Phía trời Hồng Ngự đâu xa
 Vậy mà vẫn lạc tình ta với người

 Nam Vang ngày đó xa rồi
 Chút tình còn nợ gái Khmer lai
 Chiều nay gặp lại tóc dài
 Lòng ta sóng vỗ gió ngoài biên cương

 Lục bình trôi giữa cô đơn
 Ta nghe mưa ướt một hồn thơ đau
 Tình cờ đâu nợ gì nhau
 Sao ta cứ thấy tình trào hơi men

 Nụ cười, ánh mắt không tên
 Người dưng đâu phải người quen mà gần
 Nắm tay cho thấy tình thân
 Để còn hơi ấm cho lần chia xa

 Phập phồng áo lụa nở hoa
 Gió mơn man gió mây là đà trôi
 Đời đang khuyến mãi cuộc chơi
 Nghĩ chi dâu bể kiếp người trăm năm !
 Vĩnh Xương, 26/9/2017

BUỔI TRƯA Ở CHÂU PHONG

 Tình cờ mà lại đáng yêu
 Chú ơi cho Cháu hỏi điều cháu mơ
 Vàm Kinh Cũ có bao giờ
 Vẫn còn lạ lẫm đến giờ chưa quen

 Thật tình Chú cũng như em
 Phải đâu thổ địa nên quên hết rồi
 Trưa nay nắng bỗng tuyệt vời
 Long lanh mắt nhớ dáng trời áo xanh

 Vườn sau chim hót trên cành
 Chút duyên văn nghệ gọi anh được rồi
 Mai đây gặp lại ngoài đời
 Em ơi, đừng để nụ cười gió bay !
 Châu Phong, 27/9/2017

 ÁO LỤA PHƠI BUỒN

 Em đi áo lụa phơi buồn
 Ta về nghe gió thổi mòn lối thu
 Quê nghèo vắng tiếng mẹ ru
 Nỗi đau còn đó buổi từ tạ xưa

 Đời nhau định sẵn cơn mưa
 Nên giờ hai đứa vẫn chưa hết buồn
 Nếu xưa đừng ghé môi hôn
 Người dưng qua phố ai còn nhớ ai

 Sao em lại cắt tóc dài
 Lấy gì che gió tạt ngoài hiên mưa
 Ta còn đau một hồn thơ
 Khi mà bến cũ sông hờ hững trôi

 Tóc bay áo lụa nghiêng trời
 Ta đem phơi gió bên đồi trăng tan
 Lá nào rụng xuống trái ngang
 Nắng nào hiu hắt khi hoàng hôn rơi

 Buồn xưa và nỗi ngậm ngùi
 Tình ta với nhỏ một đời ăn năn
 Ta về nói với xa xăm
 Đời sao cứ lấy lỗi lầm buộc nhau !

  TRÚC THANH TÂM

Xem tiếp…

Giới thiệu tạp chí văn hóa Phật Giáo số 281 (ngày 15.09.2017)

6:49 PM |
Trân trọng giới thiệu tạp chí văn hóa Phật Giáo số 281 (phát hành ngày 15.09.2017)



Blog Phan Nam giới thiệu.

Xem tiếp…

Người thầy lý tưởng - tạp bút Nguyễn Khánh Tuyết Vy.

11:53 AM |

Tôi phải kể sao về thầy nhỉ? Thầy, một thầy giáo già người dong dỏng cao, giọng nói và cử chỉ thầy lúc nào cũng mềm mỏng, từ tốn. Thầy, một người thầy giảng bài hấp dẫn và dễ hiểu. Nhưng tôi, đứa học trò lạnh lùng năm xưa lại không thích thầy chỉ vì thầy dạy môn Lý, môn học mà tôi ghét cay ghét đắng trong tất cả các môn.
Giọng giảng bài của thầy to, không sang sảng mà đầy ấm áp đã đưa chúng tôi trôi ngược về mấy thế kỷ trước. Học đến chương Điện, một học sinh ghét Lý như tôi mà còn phải tò mò mở tròn mắt chăm chú nghe thầy mở đầu bài giảng bằng phát minh của Edison, thầy đưa cả bốn mươi mấy đứa trong lớp trở về cuộc sống khốn khó, thời của những cái máy nghe đài xưa lắc lơ mà hồi còn nhỏ, thầy cũng như bao người dân đã sử dụng nó để nghe tin tức ngoài mặt trận khi đất nước còn kháng chiến chống Mỹ. Tôi hình dung ra cảnh trong lúc pháo nổ bom rơi ngoài đường thì xung quanh cái máy nghe đài kêu rèn rẹt trong những ngôi nhà đóng kín cửa, mọi người đang ngóng chờ tin chiến trận mà người thân họ xông pha ngoài đó. Cái bóng đèn dây tóc bình thường quen thuộc trong đời sống, qua lời kể của thầy, nó trở nên sống động, tưởng chừng như nó đã góp mặt vào lịch sử văn minh nhân loại kể từ khi nhà bác học vĩ đại Thomas Edison sáng chế ra.
Tôi dở Lý nhất lớp, có lẽ vì thế nên thầy quan tâm tôi thật nhiều. Tiết nào thầy cũng gọi tôi phát biểu ít nhất một lần, tôi rất khó chịu. Thật là còn gì “nhục” hơn khi câu hỏi nào tôi biết câu trả lời thì ông thầy không gọi, còn câu hỏi nào tôi không biết thì thầy lại gọi! Và thế là tôi cứ luôn bị gọi lên phát biểu ý kiến trong tình cảnh dở khóc dở cười nhất, đơ mặt ra nhìn thầy, còn thầy nhìn tôi mỉm cười rồi nhẹ nhàng bảo ngồi xuống. Cái thói quen đáng ghét của thầy “hay gọi tôi phát biểu” đó còn khiến tôi không được thoải mái. Tới tiết thầy, tôi phải cố tập trung không dám lơ đãng dù đôi lúc mệt hoặc buồn ngủ cách mấy. Bởi thầy có thể “tóm” tôi bất cứ lúc nào, bởi tôi không muốn thấy ánh mắt thất vọng của thầy khi thầy biết tôi không tập trung, bởi tôi không muốn thầy thất vọng trước bao tâm huyết thầy bỏ ra. Nhưng, người thầy tận tụy ấy chẳng bao giờ dành chút thời gian để la mắng học sinh. Lần đầu tiên trong đời, tôi có một ông thầy giáo lý tưởng như thế, thầy chỉ luôn nói: “Con chưa học bài”, “Con chưa làm bài tập”, “Lần sau cố gắng lên con!”, “Ừ, giỏi!”. Lời quở trách của thầy chỉ có vậy, lời động viên của thầy cũng chỉ có vậy, cùng với ánh mắt thầy buồn buồn hoặc sáng lên lúc thầy quở trách hoặc ngợi khen chúng tôi.
Ngày Nhà giáo Việt Nam, tới tiết Lý, cả lớp chúng tôi đứng lên hát tặng thầy. Hát xong, thầy cảm ơn và đó cũng là lần đầu tiên thầy dành ra mấy phút khuyên bảo chúng tôi vài điều. Ký ức tôi đến giờ vẫn còn đọng lại lời thầy hôm đó, đọng lại rõ nhất một câu nói của thầy hồi ấy đã khiến nước mắt tôi rơi: “Thầy không có bất cứ suy nghĩ xem thường một học sinh nào. Đối với thầy, các em sau này đều có thể thành đạt. Nhất định là các em sẽ thành đạt, nếu các em cố gắng.”. Tôi có cảm nghĩ thầy dành riêng lời đó cho mình. Có bao giờ, bạn hối tiếc khi bạn không còn cơ hội đền đáp ơn nghĩa một người? Có bao giờ, bạn hối tiếc khi bạn không còn cơ hội biểu lộ tình cảm và sự biết ơn đối với người đã quan tâm, lo lắng cho bạn?... Xa thầy, tôi đã hối tiếc về điều đó. Suốt năm lớp Mười Hai, tôi tìm thầy khắp trường nhưng không gặp vì thầy dạy buổi chiều, tôi học buổi sáng. Chỉ đôi lúc ngồi học trong lớp, tôi bất chợt trông thấy thầy ngoài sân, bóng dáng thầy lúc nào cũng âm thầm, lặng lẽ, đơn độc một mình. Tại sao chưa bao giờ thầy được học sinh nào ngưỡng mộ nhắc tới hoặc vây quanh trò chuyện thân mật? Hay có lẽ bởi tình thương thầy dành cho chúng tôi lặng lẽ quá chăng!...
Một buổi trưa nọ tan học, thầy sắp bước ra khỏi cổng. Điều ước nhỏ nhoi của cô học trò sắp rời xa trường rồi cũng đến. Vâng, chỉ một điều ước nhỏ nhoi là được gặp, hỏi thăm thầy thôi mà sao tôi đã phải chờ đợi rất lâu? Ông Trời chắc đã hiểu cho tấm lòng thành của một đứa học trò ngoan dành cho thầy thầy nên đã cho tôi được gặp thầy hôm ấy! Cô gái vốn ít nói, trầm tính như tôi hôm đó bỗng nhiên dám đứng giữa sân trường cất tiếng gọi to: “Thầy!... Thầy ơi!...”; thời gian như ngưng đọng, đóng băng tiếng gọi để nó âm vang mãi trong niềm vui sướng mãnh liệt về kỷ niệm Mười Một khó quên. Thầy quay lại, tôi cúi đầu chào thầy rồi vội vàng hỏi: “Năm nay thầy có dạy lớp Mười Hai không?”. Thầy nheo đôi mắt yếu ớt lại, trìu mến nhìn tôi: “Không con à! Thầy dạy dở lắm nên thầy không được dạy Mười Hai.” Ngày cuối năm, đứng nói chuyện với nhỏ bạn, khi tôi hỏi bạn còn nhớ ông thầy dạy Lý năm lớp Mười Một không, bạn nói: “Nhớ chứ, hồi đó tiết nào ổng cũng rảo khắp lớp, gọi hết đứa này tới đứa kia phát biểu. Sợ muốn chết!”, tôi cười với bạn, thầm mong được trở lại ngày ấy.
 Nhớ đến lời thầy năm ấy, tôi cảm phục tấm lòng vị tha và niềm tin thực sự thầy dành cho chúng tôi. Thầy, người thầy lý tưởng nhất trong đời tôi. Và bây giờ, tôi ao ước được nghe thầy kể lại chuyện Edison và sự ra đời của chiếc bóng đèn dây tóc một lần nữa…


NGUYỄN KHÁNH TUYẾT VY.

   
Xem tiếp…

Có một trái tim luôn xao động... - bài viết Phan Nam.

10:18 AM |

Nhà thơ Thanh Tùng, tác giả thơ ca khúc nổi tiếng Thời hoa đỏ từ giã cõi tạm ngày 12.9, để lại trong lòng công chúng mộ điệu bao tiếc nuối, thương cảm...
 Tôi biết đến ca khúc Thời hoa đỏ khá muộn, thế nhưng khi lần đầu lắng nghe, trái tim đã không khỏi xao xuyến, vì ca từ, giai điệu quá hay, chảy tràn nỗi lòng khắc khoải u hoài. Màu hoa luôn đi theo bước chân tuổi trẻ gắn liền với tất cả con tim, khối óc, xác thân của mỗi người được hòa quyện trong một không gian thi ca đẹp đẽ và ấm áp. “Dưới màu hoa như lửa cháy khát khao...” ngân vang trong ngày ông mất, đi vào trong lòng mỗi người về năm tháng trót thương, trót nhớ, trót thổn thức, trót vấn vương. Và đằng sau ca khúc đã quá nổi tiếng này, là cả một chuyện tình buồn, với người vợ đầu mà ông yêu thương bằng tất cả nhiệt huyết đắm say. Dù cho cuộc tình đổ vỡ nhưng khi vợ cũ qua đời, ông đã đến bên mộ vợ khóc thương sầu thảm, tự trong sâu thẳm, con chữ tuôn trào trong nước mắt, để lại cho đời bản tình ca bất hủ mà chắc chắn, sẽ còn sống mãi với thời gian. Thời hoa đỏ được nhà thơ Thanh Tùng viết vào khoảng năm 1972-1973, đến năm 1989 ở xứ Bạch Dương xa xôi, nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng phổ nhạc đã nhanh chóng chắp cánh cho bài thơ bay đến công chúng, neo đậu trong tâm thức của biết bao tầng lớp nhân dân, từ học sinh cho đến trí thức, người trẻ lẫn người già, người bình dân và cả giới thượng lưu... Có lẽ, tôi thuộc thế hệ muộn nhất khi lắng nghe giai điệu ngọt ngào sâu lắng, cũng là lúc nghe tin nhà thơ Thanh Tùng, tác giả thơ của bài hát qua đời. Còn gì buồn hơn, còn gì xót xa hơn, còn gì ám ảnh hơn thế... cho bao nuối tiếc khi biết đến ông quá muộn nên chưa có cơ hội được trông thấy ông bằng da, bằng thịt, được lắng nghe hơi thở ngập ngừng của một con người tài hoa với nỗi ám ảnh màu hoa kết tinh từ huyết lệ. Và thế là ông đã ra đi mãi mãi...

Trong văn học “quý hồ tinh bất quý hồ đa”, có lẽ, nhà thơ Thanh Tùng là minh chứng sống động nhất, chỉ Thời hoa đỏ cũng quá đủ làm rung động, si mê biết bao tâm hồn người yêu nhạc, yêu thơ. Bài hát gắn liền với tên tuổi của hai nữ ca sĩ là Lệ Thu và Thái Bảo. Trong đó, ca sĩ Lệ Thu là người đầu tiên thu âm bài hát này và được cho là người thể hiện thành công nhất. Phiên bản của Lệ Thu từng gây ấn tượng sâu sắc và lấy đi nước mắt của nhiều người sau khi được phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam... Sinh ra ở Nam Định nhưng tuổi trẻ gắn bó với đất Cảng đã tạo nên mạch ngầm ngưng tụ trong thơ ông, về một thời tuổi trẻ hết lòng vì tình yêu, về những vẻ đẹp rực cháy, dâng tràn sức sống. Mãi về những ngày cuối đời sống ở TP HCM, ông mới có nhiều thời gian đi đây, đi đó nhưng có lẽ cái màu hoa ấy vẫn chưa hề dịu tắt, vẫn yêu thương cõi người một cách nồng nàn, như những gì ông đã gắn bó và tận hiến cho tình yêu, cho thi ca. Trong một lần trả lời phỏng vấn, ông đã chia sẻ nỗi niềm xúc cảm khi viết bài thơ mà sau này trở thành ca khúc cùng tên rất nổi tiếng: “Bài thơ được tôi viết khi đã chia tay cuộc tình với nhân vật nữ trong thơ (vợ tôi). Do vậy, tôi nhớ mãi “Mỗi mùa hoa đỏ về, hoa như mưa rơi rơi… Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi/ Như máu ứa một thời trai trẻ… Như tháng ngày xưa ta giận hờn/ Ta nhìn sâu vào mắt nhau...”. Bài thơ toàn màu hoa đỏ, màu rực rỡ của cánh phượng ven mọi con đường thành phố Hải Phòng, màu đỏ của dòng máu tươi, của lửa cháy tình yêu trong tuổi trẻ, trong con tim từng đôi trai gái - và ở thời hoa đỏ này còn là mùa hạ có tiếng ve ngân ồn ào. Mùa của yêu thương bốc cháy trái tim trai trẻ. Nhưng tất cả vẫn là một nốt nhạc buồn, một dấu chấm than và nốt lặng kéo dài cho tới hết đời tôi” (nguồn: nhavantphcm).
Cuộc đời của ông là một bản nhạc buồn, như bao thi sĩ vẫn luôn nặng nợ ân nghĩa da diết giữa dòng đời nghiệt ngã, đó còn là minh chứng hùng hồn cho những giai đoạn thăng trầm của đất nước. “Chân leo dốc Trường Sơn/ Giờ mỏi giữa sân nhà/ Muốn lăn vào lòng mẹ/ Như những ngày còn thơ/ Tiếng mẹ run như sóng/ Tiếng mẹ mềm như tơ/ Mẹ cười hay mẹ khóc/ Chỉ thấy mắt ta mờ” (trích bài thơ Người về, Thanh Tùng). Chỉ mình ông mới biết tại sao ông lại yêu nhiều đến thế, yêu say đắm đến thế, yêu đến quên cả bản thân mình: “Anh đang gom nắng đầu hè/ Gọi hương sắc dậy, rừng ve chín đều/ Gió vàng xô bức tranh thêu/ Phượng hồng tô điểm, tình yêu trở mùa/ Hoàng hôn bảng lảng mõ khua/ Bến sông vọng tiếng chuông chùa bâng quơ” (Bức Tranh Tình, thơ Thanh Tùng). Gian truân trong cuộc sống, lận đận trong đường đời, mãi đến năm 2001 ông mới có tập thơ in riêng mang tên Thời hoa đỏ, tái bản năm 2016, tập thơ cũng đã được trao giải thưởng hội nhà văn VN 2002.
Có lẽ, bấy nhiêu cũng đã quá đủ, cho màu hoa rực cháy mãi mãi, như trong câu thơ ông viết: “Trái tim luôn xao động/ Như bên trong vẫn đầy ắp sóng Hồ Tây”.

Tiên Phước, đêm 14.09.2017
PHAN NAM.



Blog Phan Nam.

Xem tiếp…

Giới thiệu tập san mục đồng tập 02 - 2017 chủ đề Nắng hạ

9:20 AM |
Trân trọng giới thiệu tập san Mục đồng tập 02 - Nắng hạ:



Blog Phan Nam giới thiệu

Xem tiếp…

Lối ra nào cho nghệ thuật công cộng? - Hòa Bình

9:46 AM |
Nhiều đô thị lớn ở Việt Nam đang thiếu trầm trọng những tác phẩm nghệ thuật được đặt trong không gian công cộng. Trong khi đó, các tác phẩm lại phải ráng sức tìm chỗ đứng mà… không có
Tìm lối ra cho nghệ thuật công cộng là mục đích của buổi tọa đàm "Nghệ thuật công cộng từ A đến Z", do Trung tâm Nghệ thuật đương đại Việt Nam tổ chức, diễn ra chiều 19-8 tại TP HCM. Lần đầu tiên tại Việt Nam các khái niệm "kiến trúc hạnh phúc", "ngạc nhiên bền vững"… được đưa ra bàn thảo gợi lên những ước mơ và khao khát sáng tạo nghệ thuật đặt trong không gian công cộng như ở TP HCM.

Tác phẩm thừa, nơi đặt thiếu

"Người Việt chúng ta không hề thiếu các tác phẩm nghệ thuật phù hợp, thậm chí sau nhiều lần tổ chức các trại sáng tác điêu khắc, lần nào cũng "tồn đọng" hàng trăm tác phẩm được chắt lọc từ sáng tạo của các nghệ sĩ và đã đoạt giải thưởng, xong lại bị "xếp kho", chất đống lên hoặc đổ nát dần dưới nắng mưa, không hề được sắp đặt, trưng bày cho đúng nơi, đúng chỗ, đúng tầm, đạt hiệu quả về thẩm mỹ và mang lại lợi ích cho cộng đồng" - nhà điêu khắc Phan Gia Hương nói.
Tác phẩm "Thuyền nhà thuyền" của Ly Hoàng Ly trong không gian đô thị đương đại ở Chu Lai (Quảng Nam) Ảnh: Nguyễn Huỳnh Mạnh Khải
"Nghệ sĩ rất trăn trở với sáng tạo, yêu nghề thì vẫn phải làm nghề nhưng nhiều người bắt buộc phải sáng tạo những thứ không đúng với tâm nguyện" - nhà điêu khắc Phạm Đình Chiến cho hay.
Theo bà Hương: "Nhu cầu của công chúng rất cần nhưng cứ mỗi lần bàn đến chuyện nghệ thuật công cộng lại "đụng chạm" với cơ quan quản lý đô thị, quản lý công viên cây xanh… nên vấn đề vẫn ách tắc. Chúng ta chưa hề có bất cứ quy hoạch đô thị nào chuẩn bị sẵn không gian cho tác phẩm nghệ thuật công cộng. Hàng trăm tác phẩm điêu khắc nằm dưới nắng mưa bên quận 9, số tác phẩm trong Công viên Tao Đàn cũng bị trả lời là không trưng bày được vì công viên còn để tổ chức hội chợ" .

Mong một lối ra

Nhu cầu nghệ thuật công cộng rõ ràng là quá lớn, không chỉ đối với TP HCM mà còn ở các đô thị Việt Nam nhưng các nghệ sĩ chỉ biết loay hoay trong sáng tạo của mình và hầu như không có lối ra. "Tác phẩm điêu khắc thường rất lớn về kích cỡ, nặng về trọng lượng nên nếu không sử dụng với mục đích công cộng thì sau khi dự thi hoặc trưng bày, triển lãm ít ngày, tác giả cũng chẳng biết làm thế nào với "đứa con tinh thần" quá khổ của mình. "Cuộn" của tôi sau khi đoạt giải và triển lãm một thời gian, tôi mang về nhà" - nhà điêu khắc Phạm Đình Tiến từng đoạt giải Vàng điêu khắc năm 2016 nói.
Ly Hoàng Ly chưa thể trả lời được rằng sau bao nhiêu vất vả để hoàn thành "Thuyền nhà thuyền", chị sẽ mang tác phẩm của mình đi đâu sau thời gian trưng bày trong triển lãm ở Trung tâm Nghệ thuật đương đại (quận 2).
"Tôi cứ thử hình dung tác phẩm "Thuyền nhà thuyền" của Ly Hoàng Ly nếu được đặt ở vị trí cuối đường phố đi bộ Nguyễn Huệ chẳng hạn. Chỗ đó nhìn ra sông Sài Gòn. Tác phẩm có tên "Thuyền nhà thuyền" rất phù hợp với ý nghĩa của thành phố khởi nguồn từ một thương cảng như Sài Gòn. Và công chúng cũng như du khách dạo bước tới phố đi bộ sẽ được tương tác với tác phẩm thì thật tuyệt vời. Hoặc các không gian đô thị khác như Phú Mỹ Hưng (quận 7), Sala (quận 2) chẳng hạn cũng rất phù hợp với vẻ đẹp hiện đại của tác phẩm" - bà Nguyễn Thế Thanh đưa ý kiến.
Trên cương vị Phó Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Điêu khắc toàn quốc, phụ trách mảng điêu khắc phía Nam, bà Phan Gia Hương khẳng định: "Với tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, không gian đô thị của TP HCM và Hà Nội đều đã trải dài ra qua nhiều quận huyện nhưng từ rất lâu rồi, không ai để ý rằng không gian công cộng của những khu vực trung tâm của hai thành phố này rất xấu. Tượng chỉ được đặt ở một vài vị trí, không phải tượng nào cũng phù hợp. Và tượng cũng chỉ là một trong số rất nhiều hình thức tác phẩm điêu khắc hiện đại. Rất cần có một bảo tàng lịch sử để lưu giữ các tác phẩm cũ và bắt buộc phải trình bày lại bộ mặt nghệ thuật công cộng của hai TP Hà Nội và TP HCM bằng các tác phẩm đương đại phù hợp với không gian hiện nay".

Bảo tồn văn hóa và thu lợi

Kiến trúc sư Hoàng Thúc Hào khẳng định trong xã hội hiện đại, kinh tế thương mại phát triển mạnh mẽ còn sự kháng cự của cộng đồng lại rất yếu ớt. Do quá nghiêng về lợi ích vật chất nên ở mọi đô thị, bản sắc và nét riêng đều bị xóa nhòa, đặc biệt các cộng đồng thiểu số, văn hóa bản địa còn mất nhanh hơn bởi tốc độ đô thị hóa.
Theo ông Hoàng Thúc Hào, người kiến trúc sư cần góp phần bảo vệ cho sự đa dạng văn hóa và bảo tồn văn hóa cho cộng đồng thiểu số. Với mỗi đô thị, cần tạo ra những công trình mang tính ngạc nhiên bền vững. "Chẳng hạn như phố cổ Hội An (tỉnh Quảng Nam) luôn là một ngạc nhiên cho chính cộng đồng địa phương và du khách, người ta có thể sống hạnh phúc vui vẻ ở đó và vẫn có được thu nhập tốt. Chùa Một Cột (Thái Bình) cũng là một ngạc nhiên bền vững, đã tồn tại hàng trăm năm chứ không chỉ gây sốc tức thời" - ông Hoàng Thúc Hào đưa ví dụ.
Trao đổi thêm về khái niệm "ngạc nhiên bền vững", nghệ sĩ Ly Hoàng Ly cũng kể lại: "Khi đến Chicago (Mỹ), tôi đã rất ngạc nhiên với công trình "Cổng mây" hay tên khác là "Hạt đậu" (do hình dáng rất giống hạt đậu) nằm trong công viên Thiên Niên Kỷ. Đây là một công trình nghệ thuật công cộng rất nổi tiếng, được đầu tư tới hơn 23 triệu USD. Để xây dựng công viên Thiên Niên Kỷ, chính phủ đã đầu tư tới 475 triệu USD. Đây là một công trình khổng lồ tập trung các tác phẩm nghệ thuật công cộng, mỗi năm thu hút từ 2- 5 triệu khách tới thăm Chicago chỉ vì tác phẩm "Cổng mây" hay "Hạt đậu" này".
HÒA BÌNH
(Nguồn: báo Người Lao động)

Xem tiếp…

Chùm thơ của tác giả Đặng Xuân Xuyến

11:37 PM |
Tên thật: Đặng Xuân Xuyến
Bút danh khác: Hạ Vinh Thi, Thái Đắc Xuân, Đỗ Quang Ân.
Sinh ngày 17.04.1966
Quê quán: Đỗ Hạ, Quang Vinh, Ân Thi, Hưng Yên.
Tốt nghiệp Đại học Văn Hóa Hà Nội.
Đã từng công tác tại Viện Sử Học Việt Nam.
Cư trú: 7/61 Nguyễn Văn Trỗi, Phương Liệt, Thanh Xuân, Hà Nội
Các tác phẩm chính: Doanh nghiệp với thị trường, điểm yếu của người đàn ông mạnh mẽ, điềm báo và kiêng kỵ trong dân gian, tiếng nói của ngôn ngữ cử chỉ trong giao tiếp, khám phá bí ẩn con người qua khuôn mặt, dáng hình, tìm hiểu văn hóa tín ngưỡng của người Việt, vào chùa lễ Phật, những điều cần biết, tử vi kiến giải, tử vi vấn đáp, tập thơ Cưỡng Xuân (NXB Hội nhà văn)...

NGƯỜI ƠI... NGƯỜI Ở...
- Tặng N.M.P -   

Ngơ ngác níu tìm “người ơi người ở”  
Chống chếnh men say “người ở đừng về”  
Quan họ dặt dìu  
Chông chênh câu hát  
“Yêu nhau cởi áo trao nhau”
“Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay”...

Run rẩy
Thẹn thùng
Ngẩn ngơ yếm thắm
Líu ríu tơ tình ai kẻ giăng tơ?

Quan họ dùng dằng
“Người ơi người ở”
Lập cập chữ yêu chưa dám tỏ bày

Ngơ ngác níu tìm
Chống chếnh men say... 

CHIA TAY
 - Với N.M.P-

Chia tay nhé
Đừng buồn em nhé
Chút nắng chiều vội vã chạy từ lâu
Em đừng tiếc gió chiều bảng lảng
Ánh hoàng hôn tím sẫm chân trời
Em đừng tiếc phút giây ngóng đợi
Đừng tiếc chiều đếm lá vàng rơi.

Chia tay nhé
Đừng buồn em nhé
Ánh hoàng hôn vụt tắt lâu rồi
Em nhớ đến bến sông ngày ấy
Nhặt cho anh câu hát lỡ quên
Em hãy đến gốc đa đầu ngõ
Xóa giùm anh dòng chữ mộng mơ.

Chia tay nhé
Đừng buồn em nhé
Đêm tàn canh
Vọng tiếng ơi đò
Qua bến cũ đừng nghe sóng dội
Cũng đừng nhìn ghế đá tuổi thơ
Dẫu lòng em day dứt vô bờ
Câu ca cũ
Con đò chiều
Và gió chiều bảng lảng
Em hãy nhớ giờ là kỷ niệm
Dư âm buồn
Day dứt cũng thế thôi
Ta chia tay
Đêm hết đã lâu rồi.

QUA ĐÒ
- Với N.M.P-

Chiều trở lại bến xưa
Thấy sông trôi khác quá
Mây trời bay cũng lạ
Gió hình như chuyển mùa.

Đâu tiếng ai cười đùa?
Đâu đêm trăng thao thức?
Sông ơi còn thổn thức
Vắt ngược dòng về đâu?

Đã qua mấy mùa ngâu
Em sao chưa về lại?
Đò xưa ơi khờ dại
Neo mình đậu nơi đâu?

Em giờ ở nơi đâu?
Có thương về chốn cũ?
Có tan vào giấc ngủ
Buốt lạnh vài giọt ngâu?

Nắng tắt màu từ lâu
Mưa đã thôi tầm tã
Gió ngừng cơn vật vã
Sông oải mình, ngác ngơ.

Sao ta mãi thẩn thơ
Thương một thời lỡ dở...
"Người xưa đâu xa vắng
Ai đưa tôi qua đò".
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

Xem tiếp…

Rồi lẻ loi như gió... - bài viết Phan Nam

2:34 PM |
Với một phong cách sáng tác vô cùng phóng khoáng và hiện đại, tập thơ “rồi lẻ loi như gió” (NXB hội nhà văn quý I/2016) tập hợp những bài thơ được tác giả Hồ Huy Sơn sáng tác trong khoảng thời gian đã lâu, thế nhưng cảm xúc thì vẫn vẹn nguyên như mới. Tập thơ được chia làm 2 phần rất rõ ràng: “cô đơn trong thế giới loài người” và “tôi là đứa trẻ hư” sẽ đưa độc giả khám phá một bản ngã của tác giả trẻ sinh năm 1985, sinh ra ở miền gió Lào cát trắng Nghệ An, và anh dấn thân vào thi ca như đang uống cạn huyết mạch suối nguồn. Lật mở từng trang thơ ta có thể thấy tác giả hoàn toàn làm chủ con chữ trong sự “vượt thoát” của nỗi cô đơn, trường liên tưởng rộng cộng với sự thành thật khi khai mở cảm xúc đã tạo nên nhiều bất ngờ cho độc giả, đặc biệt sẽ rất thú vị với các độc giả trẻ.
Có thể thấy ngay từ bài thơ đầu tiên “ngày chủ nhật” được tác giả sáng tác vào ngày 14.03.2013 gây ấn tượng bởi tầm khái quát cho cả phần đầu của tập thơ, nghĩa là thơ tự vấn tâm hồn tác giả, và nhà thơ đối diện với lòng mình trong nỗi cô đơn đã trào dâng trong mầm mống của sự sáng tạo: vách tường bầy mối trễ nãi/ để mặc xác chữ ốm o/ câu chuyện cổ tích khép lại/ ta tự nhốt mình quá lâu/ trong căn phòng thiếu nắng/ trách sao ý nghĩ lụi tàn... Tác giả tự nhận “ý nghĩ lụi tàn” nhưng khi từ từ đọc và cảm nhận xác chữ hoàn toàn bay bổng trong một không gian mênh mông, tất nhiên là ẩn chứa cái tôi cá nhân mãnh liệt của tác giả, đồng thời chính “cái tôi” ấy song hành cùng niềm đam mê và sáng tạo. Trong bài thơ “là lúc thơ tức nước vỡ bờ”, tác giả viết: “thơ sống lại rồi!/ người ta xúm quanh/ “sao mà dại dột?”/ nhưng thơ im lặng/ hồ huy sơn cũng im lặng/ cái tên đành viết thường” không chỉ ẩn chứa nỗi niềm cô đơn dằng vặc của một người làm thơ trẻ và nỗi buồn vùng vẫy khiến họ khao khát thoát khỏi cô đơn đang bủa vây khi đối diện với thi ca. Trong phần đầu tập thơ, tác giả có chủ ý đi tìm sức sống và sự tồn tại của thi ca trong đời sống xô bồ ngày nay, khi họ lên tiếng chính là bản lĩnh và trách nhiệm của người cầm bút. Và tất nhiên, trong dòng chảy của thời sự, có những dòng thơ bao dung rất lạ, nhường chỗ cảm xúc dâng trào:
Đường vẫn dài tít tắp
Tôi lẫn với hoàng hôn
Rồi lẻ loi như gió
Bạt ngàn trong ngày buồn
                         (Phía Bắc)
Làm sao biết gió lẻ loi, chắc có lẽ chỉ có mình tâm hồn tinh tế của thi sĩ mới tỏ tường, khi đường về vắng bóng giai nhân, những ngày tháng lạc nhau phải cần dùng đến “la bàn” để định vị. Thi ca không chỉ là cái duyên, cái nặng, cái nợ, cái nghiệp... mà còn là cái tình. Cái tình hiện diện rõ ràng trong giây phút “giãi bày”: thông thênh một nẻo về/ anh muốn được cùng em đi trên con đường dậy hương hoa sữa/ chúng mình rất yêu mùa thu/ cả anh và em đều tan ra trong mùi hương dịu ngọt/ bất chất những con gió lùa. Thật thi vị, lãng mạng và trong veo như cơn gió len lỏi qua mái nhà mang theo hương hoa nồng nàn để rồi trao nhau nụ hôn đầu tiên. Rồi “ô cửa” mở ra và cũng chính từ đây khơi nguồn tư tưởng cho mạch thơ ở phần sau của tập thơ, tôi nghĩ đây là những câu thơ vô cùng độc đáo và đáng trân trọng: chúng ta đi ra từ cửa mình của mẹ/ rồi mắc kẹt giữa nhân gian/ với muôn vàn ô cửa...
Trong phần hai “tôi là đứa trẻ hư” gồm 14 bài thơ với nhiều phân khúc về quê hương. Tác giả quay về nguồn cội với biết bao trăn trở, hoài niệm và dâng trào trong đó nổi bật là tình yêu sắt son với Tổ Quốc “rất thiêng liêng và đáng tự hào”. Tác giả nhớ về cánh đồng “xấp xõa cánh trắng”, ở nơi đó có “những giọt mồ hôi của cha đổ xuống/ tong tóc đường cày ban trưa”, và giấc mơ của đứa con: “ước/ vết chân chim thôi hằn lên vết mẹ/ ngày cuối năm không có người tới nhà đòi nợ/ mẹ về già cuộc sống ấm no”. Tác giả tự nhận mình là “đứa trẻ hư” nhưng khát khao về cánh đồng quê hương chưa bao giờ nguội tắt, phải chăng chính điều đó đã làm nên tên tuổi Hồ Huy Sơn trên thi đàn? Và còn nhiều, nhiều nữa nhưng điều đặc biệt khác trong tập thơ “rồi lẻ loi như gió”, tôi nghĩ đây không chỉ là cuốn sách dành cho người yêu thơ.

Đà Nẵng, tháng 04.2017
PHAN NAM.


Xem tiếp…

Giới thiệu tuần báo văn nghệ TP HCM số 461 (03.08.2017)

4:15 PM |
Số báo 461 phát hành thứ năm 3-8-2017 giới thiệu nhiều sáng tác mới của tác tác giả :

THƠ: TRỊNH CÔNG LỘC- PHAN NAM- VĨNH THÔNG- VÕ NGỘT- LÊ NHỰT TRIẾT- LÊ VĂN TRƯỜNG

VĂN : ĐÀO NGỌC ĐỆ- NGUYỄN THANH TUẤN- THANH DƯƠNG HỒNG- VŨ ĐỨC NGHĨA- NGUYỄN NGỌC YẾN- TRỊNH TUYÊN- VÕ TẤN CƯỜNG- LƯU NGUYỄN- ROBERT BARR...

ĐỌC SÁCH :
Đọc " HOA RƠI HỮU Ý " của LÊ THIẾU NHƠN .
Bài PN.TDOAN.
 NHIỀU BÀI MANG TÍNH THỜI SỰ CẬP NHẬT NHIỀU VẤN ĐỀ NÓNG :
- PHÚC DĨ :
Tự do báo chí là tự do bịa đặt, xuyên tạc và bóp méo sự thật hay sao ?
- MINH TÂM :
Những kẻ kích động người khác phạm tội bằng việc đưa, truyền bá tin sai sự thật trên mạng phải bị trừng trị .
- TRÚC HƯƠNG:
Phạm Chí Dũng lại giở giọng cồn đồ đường phố.
- VŨ HẢI :
Thành tích " kinh hoàng " của luật sự ngụy dân chủ.
- MỘC HƯƠNG:
Chuyện hài trên mạng : Linh mục ban phép lạ như Chúa Giêsu.
Bìa : Tranh của Mình Chi- Minh Tuệ - từ cuộc thi Vẽ Nên Cổ Tích do NXB Kim Đồng tổ chức - do HS Tô Chiêm cung cấp .

Kính chúc mọi người một ngày mới tràn đầy niềm vui.


Xem tiếp…

Trúc Thanh Tâm chiều nay mưa phố

3:54 PM |

 CHIỀU NAY MƯA PHỐ
 - Kỷ niệm sinh nhật lần thứ 70 -

 Bây giờ tôi định dạng tôi
 Bảy mươi năm giữa tình đời đảo điên
 Qua hai thế kỷ ưu phiền
 Nợ còn đeo đẳng từ tiền kiếp xưa

 Đời nay mưa nắng trái mùa
 Nên đau khổ cứ cợt đùa cõi mê
 Gót chân đau nhói lối về
 Dường như bão rớt trên quê hương nhà

 Những mùa xuân cũ đã xa
 Và mùa xuân nữa chợt già trong tôi
 Học chưa hết cấp làm người
 Mà sao nước mắt chín muồi trên mi

 Một người tiễn một người đi
 Tình quê gởi lại từ khi xa người
 Dòng sông thơ ấu mất rồi
 Chiều nay mưa phố ngậm ngùi, thấy sông !
 
ĐỜI CÒN KIẾP SAU  

 Một chút gì còn lại
 Trên môi mắt một người
 Đời chia bao nhánh khổ
 Suốt đường trần chông gai.

 Bốn phương nào cũng nắng
 Tám hướng một vùng mưa
 Sóng lòng dâng thành bão
 Người trở thành... người xưa.

 Ta thấy trời cố quận
 Cây đa và mái đình
 Chiếc cầu tre thuở đó
 Ráng chiều vàng bờ kinh.

 Lòng người còn u ám
 Dưới hào quang từ bi
 Lời kinh không thể mở
 Cửa thiên đường ta đi.

 Thượng Đế luôn sòng phẳng
 Nếu còn nợ nần nhau
 Không thể vay không trả
 Nên đời còn kiếp sau!
28.4.2017

BÀI THƠ TÌNH MUÔN THUỞ 
- Quý mến tặng tất cả bạn bè -

 Anh rất vui, trái đất chưa tận thế
 Nên bao điều cần nói hôm nay
 Xin tạ lỗi với những người đang sống
 Cám ơn đời cho anh hạnh phúc, đắng cay.

 Ngày ly biệt, em hãy nên bình tĩnh
 Khóc nhiều rồi, đã mấy mươi năm
 Cả đời anh, thăm chưa giáp nước
 Nghĩ thêm buồn chuyện của thế nhân.

 Đem theo anh, em đừng quên giấy, viết
 Những tập thơ tình bè bạn in chung
 Anh ký tặng để làm quà qua cửa
 Ở cõi âm, văn hóa họ rất cần.

 Chỉ biết được những giây phút cuối
 Người yêu thầm và người lại yêu thơ
 Anh trả lại trần gian bao vinh, nhục
 Riêng tình em, anh mang hết xuống mồ.

 Bạn bè xa, bao người hay muộn
 Hãy nâng ly cạn hết rượu buồn
 Anh nhớ mãi nụ cười của những người thân thích
 Cõi sinh tồn nhiều lắm hoa thơm.

 Tiếng chuông ngân qua tầng mây gió
 Đưa hồn anh ra khỏi bến mê đời
 Sống thật làm người đâu phải dễ
 Đất nước mình còn điên đảo, em ơi.

TRÚC THANH TÂM.

Xem tiếp…