Hà Nội ngày xa ấy... - Thanh Thảo

4:36 PM |
Ảnh tư liệu internet. 

Bài hát “Tiến về Hà Nội” nhạc sĩ Văn Cao sáng tác năm 1948 ở vùng tự do Ba Thá (Hà Đông). Tôi có biết địa danh Ba Thá này, khi còn nhỏ tôi theo học ở trường học sinh Miền Nam Mai Lĩnh (Chương Mỹ-Hà Đông) thì Ba Thá chỉ cách trường chúng tôi hơn chục cây số, và cũng cách thị xã Hà Đông khoảng vài chục cây số đường đất. Hóa ra, từ kháng chiến chống Pháp, Ba Thá đã là “vùng tự do” theo cách nói hồi đó, hay “vùng giải phóng” theo cách nói sau này. Bài hát của Văn Cao, theo những người đã chứng kiến cuộc “Tiến về Hà Nội” của những người lính Cụ Hồ ngày 10.10.1954, cách đây tròn 64 năm, là “đúng đến từng nhịp chân chiến sĩ”:

“Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về
Như đài hoa đón mừng nở năm cánh đào
Chảy dòng sương sớm long lanh
Chúng ta ươm lại hoa sắc hương say ngày xa
Ôi phố phường Hà Nội xưa yêu dấu”

Đó vừa là nhịp hành khúc, vừa là tiếng reo hoản hỉ của một dân tộc đã tự giành lấy Độc lập cho đất nước mình sau chín năm trường kỳ kháng chiến và làm một “Điện Biên chấn động địa cầu”. Năm 1948, Văn Cao vừa tròn 25 tuổi (ông sinh năm 1923), và bài hát “Tiến về Hà Nội” là một tác phẩm âm nhạc tràn ngập tính tiên báo. Bài hát ấy cũng được viết ra ở nơi chỉ cách Hà Nội hơn 30 cây số. Thực dân Pháp, dĩ nhiên, không hề biết sự ra đời của bài hát này, còn toàn dân Việt Nam cũng chỉ hát lên từ ngày giải phóng Thủ đô 10.10.1954. Hà Nội có bao nhiêu bài hát hay ngợi ca từng mặt hồ, từng con phố, từng di tích lịch sử, nhưng “Tiến về Hà Nội” là bài hát duy nhất viết về cuộc tiến quân về giải phóng Thủ đô từ khi Thủ đô còn trong tay thực dân Pháp, khoảng thời gian mà bài hát ra đời tới ngày Thủ đô giải phóng kéo dài 6 năm. Đó là một điều đặc biệt kỳ lạ. Đầu năm 1955, hồi ấy tôi mới 9 tuổi, lần đầu được ra Hà Nội từ Nghệ An-ra để “du học lớp 1” bên Trung Quốc.
Ảnh sưu tầm internet.
Với tôi, Hà Nội hồi đầu gặp gỡ ấy là quán kem Long Vân bên bờ Hồ Hoàn Kiếm, nơi tôi được ông anh họ dẫn đi chơi và cho ăn que kem đầu tiên trong đời. Que kem thật đặc biệt với một đứa bé nhà quê mới từ Quảng Ngãi tập kết ra Bắc như tôi, nhưng nó đọng lại trong tôi đúng 63 năm rồi. Còn Hà Nội, mãi ba năm sau, khi từ Khu học xá Nam Ninh về nước, tôi mới bắt đầu biết về Hà Nội. Và bài hát tôi được nghe lần đầu vào dịp Quốc khánh 2.9 năm 1958 là bài hát của nhạc sĩ Doãn Nho, cũng mở đầu bằng chữ “Tiến”, nhưng là “Tiến bước dưới quân kỳ”. Bài hát này được nhạc sĩ Doãn Nho viết vào dịp kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ tháng 5 năm 1958 ngay trên đỉnh đồi A1 khi nhạc sĩ đi với đoàn văn công quân đội về thăm và biểu diễn tại chiến trường xưa:

“ Vừng đông đã hửng sáng/ núi non xanh ngàn trùng xa/ Tổ quốc bao la hiền hòa”…
 “Nghe rung núi đồi từng bước ta đi/ Nhắc tới chiến công ngàn năm xưa/ Nhìn cờ hồng bay rực rỡ/ Gương bao anh hùng bừng cháy trong tim”…

Buổi sáng sớm ngày 2.9.1958, tôi từ nhà ở Thái Hà ấp theo má tôi bắt tàu điện đi lên Cửa Nam, và đứng trong biển người chờ xem duyệt binh. Khi đoàn quân rầm rập qua Cửa Nam tiến về đường Nam Bộ, tôi bỗng nghe ầm vang bài hát ấy cất lên từ những hàng quân. Cảm giác nổi gai ốc vẫn là cảm giác còn trong tôi sau 60 năm mỗi khi nhớ lại buổi sáng khi mình được nghe bài hát ấy. Không biết các chiến sĩ trong đoàn quân diễu binh đã tập bài hát trong bao nhiêu lâu, nhưng họ hát thì đều và mãnh liệt tới mức như những đợt sóng trào làm rung động mọi người dân đứng xem. Mãi sau này, khi được chơi thân thiết với Văn Cao, tôi mới được nghe ông nói về sự ra đời của bài hát “Tiến về Hà Nội”. Thì ra, như bao sáng tạo đích thực khác, bài hát ra đời cũng khá tình cờ, và Văn Cao cũng viết rất nhanh bài hát này. Thậm chí, khi hoàn thành, bài hát còn bị phê bình là “lạc quan tếu” kia đấy. Thì vào năm 1948 ấy, ai dám nghĩ ngay tới ngày về Hà Nội oai hùng như thế, đẹp tuyệt vời như thế. Nhưng Văn Cao đã nghĩ. Và đã thấy. Nghệ thuật mang tính dự báo là như vậy.
THANH THẢO.

Xem tiếp…

Đà Nẵng, mưa & những câu chuyện tình...

3:49 PM |
Ảnh: Phan Nam. 

Sáng ngày 12.10, tại không gian cà phê thứ bảy, đường Nguyễn Thị Minh Khai, Đà Nẵng diễn ra buổi ra mắt sách Những chuyến xe đàn bà (NXB Trẻ, quý III.2018) của nhà báo, nhà nhiếp ảnh Dona Đỗ Ngọc nhân dịp kỷ niệm ngày phụ nữ Việt Nam 20/10. Cuốn sách là những quan sát, chia sẻ, ghi chép, cảm nhận, kỷ niệm được lưu giữ… về hành trình của những người phụ nữ trên chuyến xe DanaFototour – hành trình sống của tác giả Dona Đỗ Ngọc. Cuốn sách còn chia sẻ những nỗi buồn, nỗi đau của những người phụ nữ sống không hạnh phúc, chia tay với chồng và những cuộc gặp gỡ mới tốt đẹp hơn. Mở đầu cuốn sách, chị viết: “Niềm vui của đàn bà nhiều khi thật đơn giản, chia sẻ với nhau vẻ đẹp của những bông hoa, tiếng cười lảnh lót một góc đồi. Chỉ ngắm nhìn dã quỳ trong nắng trong mưa, rồi về, phía xa là cơn giông xám đen một góc trời. Những giây phút vui vẻ, thảnh thơi bên nhau thật quý giá, sau những lo toan bận rộn con cái, công việc đời thường. Có một cái gì thật cảm động khi ngắm nhìn họ từ xa. Những ánh mắt long lanh tươi sáng kia, những nụ cười hồn nhiên vô tư tạo cho họ một thần thái, một nhan sắc khác. Một vẻ đẹp có sức lan tỏa, truyền cảm hứng sống đầy năng lượng. Ngắm những người đàn bà từ xa, chụp ảnh họ, tôi như viết ngôn tình bằng ống kính…”.
Ảnh bìa cuốn sách (ảnh Phan Nam)
Những trang viết đầy chân thật và tinh tế của tác giả đã chạm đến cõi lòng bạn đọc, khiến họ rung động men theo con chữ để đi tìm cảm hứng sống, để cảm nhận một phần nào đó những góc khuất, những suy nghĩ từ sâu thẳm tâm hồn của người phụ nữ, những âm thầm, suy tư, đau đớn, khó khăn mà họ phải đối mặt, gánh chịu trong công việc và cuộc sống đời thường. Tác giả Dona Đỗ Ngọc tâm sự với độc giả về ý tưởng ra đời cuốn sách, về công việc sáng tác cũng như những trải nghiệm trong hành trình sống và những câu chuyện về đàn bà riêng tư nhưng cũng không kém phần thú vị. “Cuộc sống đa dạng và sinh động đến độ chúng ta không cần phải sáng tác, tạp văn có thể hiện sự chiêm nghiệm của mình, cuộc sống tràn đầy chất liệu, chỉ cần quan sát và chắt lọc lại trên trang viết. Tôi viết cho đàn bà để đàn ông đọc, hàng ngày cuộc sống vợ chồng không bộc lộ hết, bỏ qua sự chia sẻ của mỗi người, đọc và thương yêu hơn những người đàn bà của mình”, chị chia sẻ tại buổi ra mắt sách. Chọn thể loại tạp văn, chị không ngại bày tỏ quan điểm về tình yêu lối sống rạch ròi và dứt khoát: “Lấy được người mình yêu (hay một người tốt mình trân trọng, mình an tâm), làm những gì mình thích, sống được với đam mê của mình… là hạnh phúc nhất của đời người.
Tác giả Dona Đỗ Ngọc chia sẻ tại buổi ra mắt sách.
Tôi luôn nói với các con: Con hãy đi con đường của mình, hiểu và biết mình thích gì để có thể bền bỉ theo đuổi đến cùng”. Cuốn sách là tập hợp “những bài viết nhẹ nhàng tươi vui, tác giả kể những câu chuyện đời thường với góc nhìn tinh tế mà lại không kém phần hóm hỉnh, về cuộc sống, về hội bạn gái, về những mối quan hệ người với người mà chị chứng kiến. Phụ nữ trong góc nhìn của Dona Đỗ Ngọc đáng yêu, vui tươi, hồn nhiên, hiếm có tác giả nữ nào hiểu và nhìn phụ nữ với cái nhìn yêu thương trân trọng hồn nhiên như thế”. Nhà báo Khánh An nhận xét: “Chuyện đàn bà của Dona Đỗ Ngọc lúc nào cũng ấm áp, xoa dịu dù sự tình có buồn bã, thê lương đến đâu, và rút cục cũng thấy, chị thật sự là đàn bà hạnh phúc. Có thể bởi thái độ sống không phụ thuộc ở khách quan, mà chính bởi tại khách quan mỗi người”. Còn nhà thơ, nhà báo Lê Minh Quốc nhận xét: “Đã từng làm việc chung với Đỗ Ngọc, tôi nhận thấy chị là người quyết đoán, rạch ròi, không “nửa nạc nửa mỡ”, đâu ra đó, không “ba rọi”. Ấy là tính cách của một người mạnh mẽ, xông xác, trực tính, tất nhiên, phải cứng cỏi, nặng về lý. Tôi đã nhầm to. Nhầm thật đấy chứ. Không ngờ, đọc kỹ những gì chị viết, tôi bất ngờ nhận ra trong góc khuất của tâm hồn ấy lại chứa chan một sự đa cảm, nhạy cảm và quan sát, có góc nhìn tinh tế lắm”.
GĐ TBT Nhà xuất bản Trẻ Nguyễn Minh Nhựt phát biểu
Trong gần 200 trang sách của tác giả Dona Đỗ Ngọc không chỉ là những chuyện đàn bà, chuyện tình yêu hôn nhân & gia đình: Người trẻ hôm  nay, Chồng cũ, Hai mươi năm sau, Điều quý giá nhất, Hình xưa bóng cũ, Yêu online, Một lần nằm viện, Chuyện đàn bà… mà còn là những câu chuyện về những nét văn hóa tốt đẹp của dân tộc, về ẩm thực & du lịch xen lẫn đôi chút triết lý sống nhẹ nhàng nhưng cũng đầy chất thơ, hấp dẫn, lôi cuốn: Tam giác mạch mùa thu, Những góc nhỏ Sài Gòn, Tết miệt vườn, Khói than dừa, Phải lòng Hội An, Về quê, Hương Việt ở Cheb, Món ngon miền Tây, Sa Đéc, Sáng B’lao…
PHAN VĂN NAM.

Tác giả Dona Đỗ Ngọc là nhà báo, nghệ sĩ nhiếp ảnh, chị từng có thời gian công tác tại báo Phụ nữ TP HCM, hiện đã nghỉ hưu. Tác phẩm đã xuất bản: Đàn bà liêu xiêu (in chung, 2014), AND Tình yêu (2017), Những chuyến xe đàn bà (NXB Trẻ 2018).

Một số hình ảnh tại buổi ra mắt sách:





Tác giả Dona Đỗ Ngọc ký tặng sách (ảnh Phan Nam)

Thực hiện: Phan Nam.

Xem tiếp…

Những bông hoa mùa trần gian (*) - bài viết của Phan Nam.

9:09 AM |

Một chút xáo động cho những ngày cuối thu, lòng chợt buồn man mác nhận ra tấm thân mình đương khát yêu thương, & cho những bông hoa mùa trần gian: "đời là bể khổ, và hạnh phúc nằm ở chỗ, ta được sinh ra", cảm ơn anh Trần Duy Trung rất nhiều ạ...
Trên tay tôi là tập thơ đầu tay của anh, một người anh tôi chưa từng gặp, chưa từng nói chuyện, ngay cả trên mạng xã hội cũng rất ít khi tương tác. Có lẽ anh là một người điềm tĩnh, còn tôi thì không sôi nổi. Tập thơ với 39 bài thơ, nhiều bài tôi đã đọc trên không gian mạng, đọc đi đọc lại & thích, chỉ vầy thôi. Thơ anh là tập hợp của những trường liên tưởng lạ, đầy tính ẩn dụ. Tôi trân trọng & ngưỡng mộ anh bởi tình cảm đong đầy, chân thành & có trách nhiệm được anh gửi gắm trong thơ. Nói như nhận xét dành cho thơ anh mà tôi tình cờ đọc được trong bài giới thiệu của anh Trương Đình Phượng, cũng là một bạn viết: “đọc thơ Trần Duy Trung có cảm giác đang chứng kiến cuộc dâng hiến của một con tằm, Trung làm thơ như rút ruột mình ra mà viết”.
Duy Trung là một con người từng trải, dẫu còn trẻ nhưng không vì thế mà anh dễ dãi, viết vội, đặc biệt là với thơ, anh chọn cho mình một con đường riêng, chắt lọc mà sâu sắc, hàm súc mà đầy đủ, mộc mạc mà thanh thoát. Tập thơ chỉ gồm 39 bài thơ với 68 trang giấy, có lẽ anh đã bỏ bớt một số bài từ tập bản thảo 50 bài khi đoạt giải cuộc thi thơ “tác phẩm đầu tay” của tổ chức Du Tử Lê Foundation. Điều đặc biệt trong tập thơ này là từ trang 54 đến trang 64 anh bỏ trống với lời nhắn: “những trang bỏ trắng cuối cuốn sách này là khoảng trống dành cho bạn…”, tôi dự định sẽ viết một bài thơ chép tay tặng anh vào một trang trong đó, hi vọng là tôi có thể làm được. Trong tập thơ này, tôi thích nhứt là bài Khúc tao nôi cho Trần, tình cảm của người cha dành cho con khiến đất trời cũng phải cảm động, nghiêng ngả, huống chi là lòng người.
Gia đình nhà thơ Trần Duy Trung (ảnh chia sẻ từ facebook)
Ngôn ngữ được anh cô đọng hết mức có thể, nhưng vẫn diển tả tình cảm ngọt ngào, trĩu nặng và sâu lắng: cha đến mở cửa giấc mơ/ nhìn con ngoan thiếp ngủ…/ cha thấy dòng sông/ và những cánh buồm đỏ/ những con đường và mặt trời ở đó/ hoan ca mùa tinh khôi (Khúc tao nôi cho Trần). Những không gian đa chiều mở ra cho độc giả khoảng trống tưởng tượng và ở đó mỗi người chúng ta soi tâm thức vào đó để cùng đồng hành sáng tạo cùng tác giả. Thơ anh chú trọng về ý thức, tâm hồn nhạy cảm, phong phú, tuy nhiên giọng thơ chưa có bước đột phá để tiếp thêm nội lực cho không gian suy tưởng, gây đôi chút tiếc nuối. Những xáo động trong thơ anh tĩnh lặng, nhẹ nhàng, hình ảnh thơ, đôi khi, rơi vào lối mòn, chưa thực sự tươi mới, tuy vậy vẫn lột tả được sức sống đặc biệt trong thơ: trong đôi mắt em xáo động/ những giọt mùa tan nhanh trên sóng nước/ và bài ca buổi sáng như một đôi cánh vút/ lao vào vẻ đẹp của tháng Giêng (Bài ca buổi sáng).
Trong Những bông hoa mùa trần gian, anh viết: “cái hôn ngày hôm qua/ cái ôm ngày hôm nay/ như bông hoa/ chúng ta đang rộ nở/ chúng ta tận hiến cuộc đời cho mỗi phút giây/ cho sự hiện diện này/ rực rỡ và duy nhất// vì cuộc đời là có thật/ vì tình yêu là có thật”, tình cảm, tình yêu là khái niệm mà muôn đời con người cũng không thể lý giải đầy đủ, và thi ca làm chức năng xóa nhòa khoảng cách, ranh giới giữa người với người, làm chúng ta thức tỉnh, vươn tới cõi giới đẹp đẽ tạo hóa ban tặng. Trong bức tranh thi ca đa màu sắc đương rộ nở như hiện nay, chỉ “cần một hiện diện vắng mặt” cũng làm ta phải lưu tâm, nhứt là khi nó xuất phát từ khát vọng chinh phục cái đẹp của người viết, dẫu không đễ gì chạm tới cái đích đó, nhưng khi đọc thơ Trần Duy Trung, niềm tin ấy vẫn còn hiện diện ở chung quanh ta…
PHAN NAM.
(*) Nhân đọc tập thơ Sự tĩnh lặng của nước, NXB Đà Nẵng & Domino Books xuất bản, quý III, 2018.



Xem tiếp…

Chạm tay tháng mười... - tản văn Phan Nam

8:26 AM |
Ảnh: https://baonghean.vn/ 

Hơi lạnh sáng nay xuyên thấu qua từng làn da thớ thịt, mơn man ánh nhìn đắm đuối của chàng lữ khách. Dòng sông luân chuyển buồn vui ngày cũ lặng lờ trôi mãi mịt mờ biển khơi, hỏi rằng em có nhớ những ngày đầu lúc đôi ta gặp gỡ. Chiếc lá vàng khẽ chạm vai áo, len lỏi qua những nỗi buồn trung du. Giọt cà phê khuấy động đáy mắt, mùa gặt còn vương vấn tà áo, phải không em? Cơn mưa nhè nhẹ nhỏ từng giọt đơn côi xuống bậc thềm trước hiên quán cà phê, đóa sen cuối mùa vẫn cố gắng tìm chút hương sắc trong từng cánh nhỏ xao động mặt hồ. Lòng sen như lòng người, miệt mài tận hiến những vẻ đẹp giấu kín, vừa muốn thổ lộ vừa muốn ẩn hiện chút bí hiểm màu nhiệm nào đó dưới mặt nước trong veo thấp thoáng mây trời. Bức ảnh được lưu lại rất nhanh sau đó, trang cá nhân lại có thêm góc nhỏ cho riêng mình, và đôi khi muốn chia sẻ đến tất cả mọi người những hoài niệm cố hương, nơi ta chôn nhau cắt rốn, nơi ta tha hương cầu thực, nơi thời gian không cần đong đếm, nơi yêu thương không cần tất tả ngược xuôi…
Cuốn sách trên tay vẫn còn dang dở, chưa biết khi nào mới kịp khép lại, mùa thu miệt mài tận hiến chút ngọt ngào xưa cũ. Cơn mưa lặng lẽ giăng kín khu vườn, bỏ mặc từng chùm dâu da chua chua ngọt ngọt trĩu nặng từ tận gốc đến ngọn cây, món quà nhà quê chín lịm trong nỗi nhớ, ánh lên trong tâm thức những tia chớp nhỏ nhoi cũng đủ làm ta nao lòng, cồn cào nỗi nhớ niềm thương. Người bà với nải chuối xanh ngang qua phố cũ, tiếng rao hàng nghèn nghẹn trên gương mặt bạc màu thời gian, chợt nghĩ đến bức tranh mùa đông buồn bã se sắt cõi lòng. Chặng đường tuổi trẻ chắc chắn không chỉ có những khung cảnh, những nét đẹp đọng lại trên từng miền đất mới, trải nghiệm mới, khao khát mới, ở đó còn có chỗ cho những ưu tư và chênh vênh giấu kín. Lưu lại khoảnh khắc tươi đẹp nơi góc quán, đôi mắt bạn hun hút cuối khung cửa, khẽ rung câu chuyện tình yêu.
Tác giả Phan Nam.
Bình yên đến qua từng dòng nhật ký ngày cũ, dòng chữ run run kể lại xúc cảm riêng mình, dành cho riêng mình, lưu lại biết bao xáo động không dễ dàng bày tỏ. Góc nhỏ của người thương, mang đến cho ta hạnh phúc ngập tràn, dư vị cuộc sống đôi khi đến từ những điều bình dị, nhỏ nhặt, kín đáo. Tình mình bây giờ như mưa trên sông / Mưa đầu sông, mưa cuối sông / Tình mình bây giờ như cơn gió đông, / Gió đầu đông, gió cuối đông (*), khúc nhạc uyển chuyển ru hời màn mưa, thẩm thấu tâm hồn, chảy tràn bờ bãi, nuôi dưỡng mầm non phía bên kia chuyến đò hạnh phúc. Trang viết chắp nối biết bao hoài niệm sao vẫn mãi dang dở. Câu thơ ta cố gắng chu toàn sao vẫn mãi thiếu vắng cảm xúc mặn nồng ngày xanh. Quà sách ta trân trọng nâng niu cho trọn vẹn cảm xúc, cho đong đầy nghĩa tình, cho yêu thương còn vang động khắp khu vườn ngôn từ, lắp ghép mái nhà bình yên. Quả ngọt miền trung du đang vẫy gọi, như sông suối nuôi dưỡng cánh đồng nồng đượm phù sa. Bàn tay của bà, của mẹ nâng niu từng chùm lòn bon mà đất trời ban cho làm tim ta đau nhói, muốn quay về tận hưởng khúc hát nằm nôi đưa ta vào sâu giấc ngủ, như cánh chim vỗ cánh mịt mờ tâm tưởng. Hôm nay, vội vã đến bến xe mang thùng xốp được gói ghém cẩn thận, từng chùm, từng chùm lòn bon đưa về dãy trọ qua bước chân vội vàng, xao xuyến, chia sớt mỗi người mỗi chùm, tự hào khoe quả ngọt quê em đấy. Loại quả được vua ngự ban với tên gọi mỹ miều: Nam Trân (Ngọc phương Nam), bất chợt giọt lê tuôn rơi như cơn mưa tháng mười…
PHAN NAM
(*) Lời ca khúc Mộng sầu, Trầm Tử Thiêng.



Xem tiếp…

Tuổi học trò trong thơ Nguyễn An Bình - bài viết của Phan Nam.

8:21 AM |
Ảnh internet. 

Trong dòng chảy ngược xuôi của cuộc sống với bao bộn bề lo toan, thật hiếm khi chúng ta có thời gian hồi tưởng, suy niệm về quá khứ, về tuổi học trò tinh khôi trong trắng, vô ưu vô lo. Nhà thơ Nguyễn An Bình, thi sĩ kỳ cựu của đất phương Nam đắm đuối với trang viết, đặc biệt là mảng thơ về tuổi học trò và đã cho ra đời nhiều thi phẩm được đông đảo độc giả yêu thơ đón nhận: Còn một chút mưa bay (2013), Mười năm bóng ngựa qua thềm cũ (2016) và mới đây là tập sách Hạ đỏ lên trời (NXB Hội nhà văn 2018). Khung trời hoa mộng với sân trường, bảng đen, phấn trắng, hoa phượng, sợi tóc, cơn mưa, tà áo, tiếng ve, nắng vàng, mây trắng… ẩn hiện chập chờn qua từng dòng thơ êm ả, dịu ngọt chảy tràn trong tim người đọc, qua từng khung ảnh nhạt nhòa thời gian. Có nhiều thơ xuất bản từ trước năm 1975, sau một thời gian vắng bóng, nhà thơ Nguyễn An Bình trở lại độc giả với tập thơ Còn một chút mưa bay và từ đó đến nay ông miệt mài sáng tác, toàn tâm toàn ý với thi ca, với con chữ. Thơ ông nhịp điệu, nhẹ nhàng, lãng mạn và tràn tiếng nhạc, tựa như những mầm cây đang thổn thức, cựa quậy bên trong tâm hồn, mặc kệ sương gió thời gian phủ kín mái đầu thi sĩ. Lật mở tập thơ, có thể bắt gặp hành trình thi ca của ông dài như đường phượng bay, thổi qua từng trang ký ức: Rồi cũng chia tay đường phượng bay/ Làm sao đếm hết lá trên vai/ Một trời mưa nhỏ rơi trong mắt/ Ai nhặt giùm tôi trên ngón tay? (…) Sợi tóc nào vương mùa hạ cũ/ Có người về nhớ chuyện trăm năm/ Một mai trang sách vàng nhung nhớ/ Mới thấy đêm khuya lạnh chỗ nằm (Xa rồi đường phượng bay). Phải có một trái tim nhạy cảm, sâu sắc, khắc khoải mới có thể viết nên những vần thơ đằm thắm, tình cảm như thế, và phải có một tấm lòng dành trọn cho mái trường xưa cũ mới có những vần thơ tiếc nuối, u hoài như thế:
Ngôi trường cũ tôi không về kịp nữa/ Nhớ mái vòm rêu phủ bóng thời gian/ Bầy sẻ nâu thôi không còn ríu rít/ Trường trăm năm trơ gạch ngói hoang tàn
Tàn lim xanh đâu còn nghe chim hót/ Rải hoa vàng cho sắc nhớ thêm tươi/ Trái phượng già cuối mùa chưa kịp rụng/ Em có về thương nhớ tiếng ve rơi
Từng viên gạch vẫn đỏ tươi màu đất/ Dẫu trăm năm luôn giữ mãi tình hồng/ Bao vôi vữa đâu chôn vùi ký ức/ Trong dòng đời chìm nổi bến đục trong (Trường cũ)
Bìa tập thơ Hạ đỏ lên trời (ảnh Phan Nam)
Ngoài thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc, ngũ ngôn có lẽ là thể thơ được ông yêu thích, tính cô đọng, hàm súc và mềm mại chảy vào bài thơ rất tự nhiên, mộc mạc: Phượng hồng còn thắp lửa/ Đỏ một trời tương tư/ Tiếng ve rền khung cửa/ Gõ từng nhịp thiên thu (Về đâu những mùa hạ xưa); Em có nghe cỏ hát/ Bốn mùa nở đầy hoa/ Tim treo lời mật ngọt/ Đỏ tươi màu phù sa (Có một thời yêu nhau). Cởi bỏ chiếc áo học trò để bước vào đường đời đầy giông bão, quăng quật khiến cảm xúc chai sần, tàn lụi, thế nhưng có một người thầy giáo cũ vẫn ngày đêm nâng niu xúc cảm, nâng niu khát vọng chạm đến mọi ngóc ngách tươi đẹp của tuổi học trò thơ mộng, bình yên. Khi đọc từng con chữ được viết ra từ tâm huyết của nhà thơ, cảm xúc tự đâu ùa về, giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên mi ngỡ như vừa mới hôn qua, dòng mực tím vẹn nguyên trên tà áo: Thuở ấy thơ còn thơm mùi sữa/ Xé giấy học trò viết vu vơ/ Bao lần quên mất lời thầy giảng/ Ngoài sân say tiếng chim líu lo (…) Dăm thằng bạn học khoái văn chương/ Mài đũng quần mơ thi văn đàn/ Khoe bài Tuổi Ngọc, Văn, Văn học/ Sóng Thần, Điện Tín, Đuốc Nhà Nam… (Thuở ban đầu ấy).
Phan Nam & nhà thơ Nguyễn An Bình tại cafe Phố Xưa, Đà Nẵng, ngày 19.11.2017.
Trở về mái trường xưa, hoa phượng giăng kín ký ức, chảy trong huyết quản, thắp sáng tâm khảm: Chờ em ướt lạnh chỗ nằm/ Tóc rơi lời hẹn xa xăm không đành/ Bao mùa mắt lá còn xanh/ Trôi theo nỗi nhớ lên nhành phượng xưa (Phượng yêu). Bàng bạc trong thơ Nguyễn An Bình là dòng thời gian đong đầy nhịp thở, bóng hình người xưa khao khát yêu thương, nỗi nhớ đông đặc khuấy động từng trang ký ức, khúc hát xa xăm vang vọng trôi qua cõi người. Tất cả chỉ còn rung lên từng hồi giữa thinh không nhiệm màu, muốn quên đi tất cả nhưng càng quên lại càng nhớ, càng xóa nhòa lại càng hiện rõ, thực khiến người ta phải động lòng. Lòng cố níu ước gì mưa không dứt/ Sao mưa cứ đùa rắc nhẹ xuống từng cơn/ Tay muốn giữ nhưng dòng đời vẫn chảy/ Con nước vô tình thả vạt tóc buông (Mưa tháng sáu), khép lại tập thơ trong dòng chảy miên man, vô tận...
PHAN NAM
(Nhân đọc Hạ đỏ lên trời, Nguyễn An Bình, NXB Hội nhà văn 2018)


Xem tiếp…

Chơi thơ, thú vui độc đáo... - Ngô Minh

6:26 PM |

Bé Bê Lim (Hoàng Dạ Thi), con gái út của hai thi sĩ Hoàng Phủ Ngọc Tường và Lâm Thị Mỹ Dạ, làm thơ từ lúc chưa biết chữ. Sau mấy chùm thơ của em được in trên báo, các nhà báo, nhà thơ liên tục đến nhà hỏi chuyện để viết bài khen. Em sợ quá, làu bàu với mẹ: "Con làm thơ để chơi, có chi mà cứ phỏng vấn!". Đúng là có thứ thơ để chơi thật. Các nhà thơ Việt Nam sau này đa số nghiêm túc, làm thơ để giáo dục, nên ít chơi thơ. Nhưng cũng có không ít người chơi thơ rất thâm hậu.
Chơi thơ rất phổ biến ở Trung Quốc và Việt Nam từ xưa đến nay. "Chơi thơ (trong sáng tác) là trò chơi trí tuệ và là thú vui tao nhã lúc trà dư tửu hậu. Muốn chơi thơ, người chơi phải rành luật thơ, lại phải thâm thúy, nhạy cảm mới ứng đối được. Chơi chữ, chơi thơ có lẽ là thú chơi tao nhã và thú vị nhất. Chơi thơ là chơi chữ với lối hồi văn liên hoàn, họa vần, họa chữ, nói lái, độc vận, điệp từ, hay chơi cấu trúc thơ. Sách "Chơi chữ Hán Nôm" (NXB Thuận Hóa, 2002) của Hải Trung giới thiệu hàng chục cách chơi cấu trúc thơ của Trung Quốc, Việt Nam xưa như dạng "thuận nghịch độc", hay "Thuận Hán, nghịch Nôm", cấu trúc vòng tròn, xoắn ốc, hình Hà Đồ, thơ hình núi...
Ví dụ bài thơ "Vũ Trung Sơn Thủy" của vua Thiệu Trị chỉ 56 chữ Hán, mà có thể đọc đến 64 bài thất ngôn bát cú, 64 bài thất ngôn tứ tuyệt.  Nhưng chơi thơ như vua Thiệu Trị là cực khó, phải thâm thúy chữ Hán và rất sành thơ mới làm được. Đa số các cụ đồ hay chữ thường chơi thơ thuận nghịch độc. Hàn Mặc Tử từ nhỏ đã có bài thơ  "Cửa sổ đêm khuya", có thể đọc ngược xuôi theo 6 cách: Hoa cười nguyệt rọi cửa lồng gương/ Lạ cảnh buồn thêm nỗi vấn vương/ Tha thiết liễu in hồ gợn sóng/ Hững hờ mai thoảng gió đưa hương/ Xa người nhớ cảnh tình lai láng/ Vắng bạn thơ ngâm rượu bẽ bàng/ Qua lại yến ngàn dâu ủ lá/ Hòa đàn sẵn có dế bên tường. Đọc ngược:Tường bên dế có sẵn đàn hòa/ Lá ủ dâu ngàn yến lại qua... Bỏ hai chữ đầu mỗi câu sẽ có bài thơ ngũ ngôn, rồi lại đọc xuôi, đọc ngược (Nguyệt rọi cửa lòng gương/ Buồn thêm nỗi vấn vương...). Rồi bỏ hai chữ cuối mỗi câu lại có bài thơ mới, đọc xuôi đọc ngược...
Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ và nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường (ảnh: tư liệu internet)
Có lần nhà văn Trần Dần kể với tôi về người bạn thơ ở Hà Nội,  ông gọi là "thi sĩ Chúc Bờ sông" vì ông ấy ở bên bờ Sông Hồng. Thi sĩ Chúc có nhiều bài thơ cực ngắn, viết xong rồi cất vào hòm, bạn bè tới vui chén rượu thì lấy ra "ngắm". Ví dụ có bài có cái nhan đề là "Vợ chồng". Còn cả bài thơ chỉ có một chữ: Xong! Trần Dần bình: "Vợ chồng - Cái mớ bòng bong ấy gọi là xong!". Nhưng Phùng Quán lại chê là lời bình quá dài dòng! Đó là một cách chơi thơ rất tài tử. Thơ Bút Tre cũng là một thứ thơ chơi  thâm hậu. Với cách ngắt vần lục bát trái khoáy, nhà thơ đã biến mọi thứ nghiêm túc thành trò cười: Con ruồi là giống hiểm nguy/ Một chân của nó rất vi trùng nhiều... Nhưng ông đã làm nên một trường phái thơ mới nổi tiếng ở Việt Nam: Trường Phái Bút Tre! Thơ Bút Tre Hoan hô Đại tướng Võ Nguyên/ Giáp ta thắng trận Điện Biên trở về  là cách chơi vắt dòng lục bát tài hoa, tạo ra nhịp điệu mới trong lục bát Việt Nam. Sau này trường phái Bút Tre trẻ  phát triển liên tục:  Núi Voi trông thật giống con voi/ Có cả đầu đuôi có cả vòi / Núi cũng như người hăng sản xuất/ Đầu thì trồng sắn đít trồng khoai...
Đa số thơ chơi là thơ xướng họa. Nhà thơ Lý Hoài Xuân kể, hồi chung tỉnh Bình Trị Thiên, một hôm trong một cuộc họp có cả vợ chồng Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lâm Thị Mỹ Dạ cùng dự, nhà thơ Văn Lợi liền  ứng tác viết vào mảnh giấy bài thơ bốn câu, rồi chuyền cho Mỹ Dạ: Lâm vào cảnh sắc ngàn xưa/ Thị vàng rơi xuống ngẩn ngơ lòng người/ Mỹ nhân sắc nước hương trời/ Dạ nào chẳng muốn trao lời tri âm. Bốn câu thơ những chữ đầu mỗi câu kết thành tên Lâm Thị Mỹ Dạ. Mỹ Dạ chưa kịp đọc xong, Hoàng Phủ Ngọc Tường ngồi cạnh, liếc đọc rồi làm ngay bài thơ họa chuyển cho Văn Lợi, cũng bốn chữ đầu thành tên Lâm Thị Mỹ Dạ: Lâm ly kẻ mặt chau mày/ Thị thành son phấn làm bay hương đồng/ Mỹ miều má thắm môi hồng/ Dạ còn trong sáng như dòng sông quê. Văn Lợi liền ứng tác tiếp bài thơ khác. Lần này bốn chữ đầu  bốn câu thành tên Hoàng Phủ Ngọc Tường: Hoàng hôn về lối xóm/ Phủ bóng người gái quê/ Ngọc ngà nơi thôn dã/ Tường tận càng đam mê. Hoàng Phủ đọc xong, nhẹ nhàng đưa cho Lâm Thị Mỹ Dạ.  Mỹ Dạ đỏ mặt, rồi ứng tác ngay bài họa:
Hoàng cung xưa vẫn còn đây
Phủ rêu năm tháng xanh dày thời gian
Ngọc kia lũ đã cuốn tràn
Tường giăng kín mít bóng hoàng hôn buông.
Chơi thơ là sinh hoạt lý thú của làng thơ, làm cho người nghe sảng khoái và yêu thêm sự bí ẩn và kỳ diệu của thơ!
NGÔ MINH
Nguồn: báo công TP Đà Nẵng

Xem tiếp…

Giới thiệu tạp chí sông Hương số 355, tháng 9.2018

5:01 PM |

Mục lục sông Hương số 355, tháng 9.2018

VĂN
- “TUẦN LỄ VÀNG 1945” (Trích đoạn tuồng lịch sử) - Nguyễn Phước Hải Trung
- CƠN DÔNG - Đinh Ngọc Tâm
+ Minh họa: Đỗ Kỳ Huy
- CÓ MỘT NƠI SẼ LÀ NHÀ - Nguyễn Thị Duyên Sanh
+ Minh họa: Nguyễn Duy Linh
- MÔI FREUD - Lê Vũ Trường Giang
+ Minh họa: Nhím

THƠ:
- TRẦN VĂN THIÊN
+ Chữ
+ Chị
- NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG
+ Bầu trời Facebook
+ Hồng xiêm chín
- VŨ DY
+ Thơ nháp dưới chân tường rêu mốc
- KHALY CHÀM
+ Từng đêm tôi với bóng tôi
- ĐẶNG VĂN SỬ
+ Thủy tức ùa
- PHAN NAM
+ Cha
- ĐINH PHƯƠNG
+ Rơi
+ Chúng mình
- TRẦN VĂN LỢI
+ Trở lại với dòng sông
- HỒNG CHINH
+ Tháng bảy
- LÂM BẰNG
+ Đức tin
- NP PHAN
+ Dõi theo
- NGUYỄN VĂN CHƯƠNG
+ Vẽ đêm
- TRẦN HUY MINH PHƯƠNG
+ Côn Đảo
+ Về phía dòng sông
- ĐỖ THỊ NHẠN
+ Mảng đời sương khói
- NGUYỄN THANH HẢI (giới thiệu)
+ Những bông mưa đã rụng xuống mình
+ Là trở về thăm một chuyến sắp đi xa
+ Mới đó đã ngày xưa
Sông Hương (ảnh Phan Nam)
NHẠC: 2 BÀI
- Ngoảnh lại - Thơ: NP PHAN & Nhạc: TRẦN ANH PHƯƠNG
- Đoản khúc thu - Nhạc và lời: HỒ HOÀNG VINH
NGHIÊN CỨU VÀ BÌNH LUẬN
- H’MÔNG - THUYẾT LUÂN HỒI TỘC NGƯỜI - Nguyễn Mạnh Tiến
- NAM BỘ ĐẦU THẾ KỶ 20 QUA TIỂU THUYẾT NGƯỜI TÌNH CỦA MARGUERITE DURAS - Nguyễn Thị Tuyết
CỬA SỔ NHÌN RA VĂN HỌC THẾ GIỚI ĐƯƠNG ĐẠI
- Sách cát - JORGE LUIS BORGES - Võ Hoàng Minh dịch
HUẾ - DÒNG CHẢY VĂN HÓA
- MỘT SỐ BIẾN ĐỔI CỦA CA HUẾ TRONG THẾ KỶ XX QUA CÂU CHUYỆN VỀ BÀI TƯƠNG TƯ KHÚC - Phan Thuận Thảo
TÁC GIẢ - TÁC PHẨM:
- KHI VĂN CHƯƠNG “BẢO TRÌ Ý THỨC LÀM NGƯỜI” - Sơn Ca
- VỀ CÁC CHIỀU CẠNH CỦA PHÊ BÌNH - Đỗ Lai Thúy
- DI CHỮ TỪ VỰC THẲM - Nguyễn Thanh Tâm
Bìa 1: Tác phẩm “Em mơ gặp Bác Hồ” (Sơn mài, 80cm x 120 cm) của họa sĩ LÊ PHAN QUỐC
Bìa 2: Hiện đại, hậu hiện đại… rồi sao nữa? - VŨ LÂM
Bìa 3 (Những khoảnh khắc đẹp): Tác phẩm “Nơi ấy bình yên” của NSNA NGÔ THANH MINH

Xem tiếp…

Nhịp đời thân thương... - bài viết của Phan Nam.

10:05 AM |
ảnh internet. 

Đêm ngày 14.9, tại quán café ROYAL (số 9, Lê Duẩn, Đà Nẵng) diễn ra buổi ra mắt tập thơ Nhịp đời thân thương (NXB Văn học 2018) của tác giả Nguyễn Thị Kim Anh, hiện tác giả đang sinh sống tại Đức Phong, Mộ Đức, Quảng Ngãi.

Tác giả Kim Anh bị khuyết tật bẩm sinh từ nhỏ, thế nhưng chị đã vượt lên số phận bằng chính nghị lực đáng quý, chị đã vịn câu thơ đứng dậy để viết tiếp ước mơ của mình với hai tập thơ Nhật ký thời gian (NXB Văn học) và bây giờ là tập Nhịp đời thân thương. Tập thơ được trình bày khá đẹp và trang nhã, gồm 69 bài thơ trong hơn 100 trang in. Đọc thơ Kim Anh để cảm nhận tiếng lòng của người con gái luôn hướng về cái đẹp, niềm tin và khát vọng: Đẹp gì cố gắng sẽ nên/ Tựa như hoa nhỏ mang tên xương rồng (Yêu đời). Phần không thể thiếu trong thơ chị là nỗi niềm đồng cảm với những số phận giống như mình, những con chữ như rút ruột ra để viết, khiến người đọc cảm thông và đồng cảm: đó là những phận người bán vé số lang thang trên hè phố, những đứa trẻ phải xa nhau khi bố mẹ ly hôn, những bà mẹ mong ngóng đứa con làm ăn ở phương xa chưa về, những đứa trẻ mồ côi “sống tạm trú dưới khung trời bất hạnh”, những người cùng chung hoàn cảnh khuyết tật như tác giả nhưng luôn đong đầy nghị lực sống, hòa nhập và cống hiến hết mình cho xã hội.
Bìa tập thơ (ảnh Phan Nam)
Tác giả Diễm Phượng, trong lời tựa mở đầu tập thơ Nhịp đời thân thương nhận xét: “Kim Anh làm thơ không phải để thi thố tài năng mà là để thể hiện những cảm xúc, những yêu thương em gom nhặt được từ cuộc sống. Thơ bình dị, mộc mạc, cách viết, cách cảm mang dáng dấp của những câu chuyện kể gần gũi thân thương, giọng thơ hiền hòa như lời tâm sự, nhắn gửi…”. Cảm xúc bất chợt với cảnh đẹp quê hương, khoảnh khắc giao mùa đong đầy nỗi niềm ẩn hiện trong tâm thức của biết bao thi nhân tự bao đời nay, một lần nữa được thắp sáng trong thơ Kim Anh, nhẹ nhàng, tình tứ nhưng cũng tràn đầy thi vị: Tháng Hai đến mặt trời lên chiếu rọi/ Nắng ửng hồng từng ánh chói xa xôi (Tháng Hai đến), Vệt nắng bên thềm chói chang/ Đồng quê lúa chín ngả xanh vàng/ Kìm sim trổ nụ xuân vừa khép/ Đấy phượng bung chồi hạ đã sang (Giao mùa), Lòng cảm động nên chưa tả hết/ Bởi tình quê thống thiết vậy mà/ Việt Nam tổ quốc bao la/ Dòng đời lắng đọng đậm đà chẳng quên (Hè quê), Vào Sa Huỳnh cũng lắm cảnh thiên nhiên/ Đức Phổ đó bạn hiền mê chụp ảnh/ Bãi cát lại pha màu vàng óng ánh/ Cùng cánh đồng sát cạnh muối trắng tinh (Du lịch quê em). 

Bên cạnh đó là những vần thơ mộc mạc, chân chất xuất phát từ chính tâm sự, nỗi lòng trong sâu thẳm trái tim nhân hậu, vị tha của tác giả hướng về đấng sinh thành: “Con biết mẹ, con biết cha/ Hằng ngày vất vả nhưng mà chẳng than/ Sáng xuống ruộng, chiều lên ngàn/ Làm bao là việc gian nan cả đời” (Cha mẹ), lời tự vấn của tác giả rung động lòng người: “Mẹ mang một nắng hai sương/ Đem ra chợ đổi làm đường con đi” (Mẹ em). Phần cuối tập thơ là mảng tình buồn dung dị nhưng cũng rất đáng yêu: Ước gì anh đến chiều nay/ Hoa đỏ trao tay em tặng/ Để em có dịp tỏ bày/ Trao gửi trái tim trong nắng (Ước gì). Thơ là cầu nối yêu thương của tất cả mọi người, với tác giả Kim Anh chiếu cầu ấy chính là động lực, là nguồn sống của chị: Mang số phận ngậm ngùi cay đắng/ Thôi thì mình cố gắng vượt qua/ Yêu thơ kết bạn một nhà/ Nối vòng tay lớn cho ta bớt sầu (Số phận).

Đà Nẵng, 20.9.2018
PHAN NAM.


Xem tiếp…

Giới thiệu tuần báo văn nghệ TP HCM số 515 ra ngày 13.9.2018

10:00 AM |

Tuần Báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh
thuộc LIÊN HIỆP CÁC HỘI VĂN HỌC - NGHỆ THUẬT TP.HỒ CHÍ MINH
Số 515, ra ngày thứ năm, 13.9.2018.
Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh:
. Tầm nhìn văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh / Hoàng Xuân Huy.
Từ trang tư liệu cũ – Trao đổi – Nghiên cứu – Lý luận phê bình:
- “Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng”:
. Phát biểu của Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn.
. Ông James G.Zumwalt xuyên tạc bịa đặt về chuyện Gạc Ma trên báo Mỹ (phần 1: Xuyên tạc bịa đặt về sự “im lặng”) / Lê Hương Lan & tập thể nhóm Google.Tienlang
. Bước lùi thế kỷ về Nam Phong - Phạm Quỳnh / Lê Vĩnh Trường.
Bút ký ghi chép, hồi ức, chân dung:
. Tình và đời / Trần Tử Văn.
Truyện ngắn:
. Quá khứ cha về / Đào Sỹ Quang.
. Mẹ kế / Trần Thị Lành.
. Cát bụi / Bùi Đế Yên.
Tạp bút:
. Nụ cười Việt Nam / Vũ Hạnh.
. Tỷ phú không tiền; Trăng xưa / Từ Kế Tường.
. Thư cảm ơn / Bùi Ngọc Quế.
Thơ:
. Ước gì / Bình Địa Mộc.
. Khúc tri âm / Trịnh Bửu Hoài.
. Tôi tìm / Trần Biên Thùy.
. Về quê / Ngưng Thu.
. Giếng quê / Phạm Ánh.
. Nhắn với con yêu trong bụng mẹ / Trần Đức Tín.
. Mộ gió / Phan Nam.
. Cách hai đầu biên giới / Hà Ngọc Hoàng.
. Rằm tháng bảy / Doãn Thị Như.
. Gửi bạn kiến trúc sư / Lê Anh Phong.
. Kí ức bùn non / Nguyễn Thị Minh Thùy.
. Bầu trời xanh giữa thành phố rộn ràng / Khuê Việt Trường. 

Góc nhỏ Sài Gòn:
. Rong chơi với chợ đêm Sài Gòn / Trần Thanh Tâm.
Văn học nước ngoài:
. Truyện ngắn: Chuyện kể của người tài xế taxi ; Câu chuyện trong nhà ga / Robert Turne (Mỹ), Hải Yến (dịch).
Báo chí:
Điểm tin, bài văn hóa văn nghệ:
. Tỉnh Kiên Giang tổ chức Lễ hội kỷ niệm 150 năm ngày hi sinh của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực (1868 – 2018) / Dương Đông, Hồ Kiên.
. 300 gian hàng tham gia Hội chợ Du lịch Quốc tế TP.HCM lần thứ 14 – năm 2018 / Nguyễn Dương, Lã Quốc.
. Khởi động cuộc thi Piano Quốc tế Hà Nội lần thứ IV năm 2018 / Tuấn Anh, Thu Hà.
. Giao lưu ra mắt sách “Ngày tôi còn bé” / Phương Thảo, Quỳnh My.
. Phát động Giải Ảnh báo chí Khoảnh khắc vàng lần thứ 5 – 2018 / Ngọc Chi, Trần Hoàng.
. Vinh danh Bảo tàng chứng tích chiến tranh TP.HCM - Việt Nam / Cao Nguyễn, Thu Vân.
. Mời tham gia Cuộc thi ảnh nghệ thuật đen trắng năm 2018 / Thanh Vân, Khánh Nga.
Sách trên kệ sách:
. Đọc “Nhật ký chiến trường” của nhà báo, nhà văn, liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý / Lê Văn, My Quỳnh.
Kính văn nghệ:
. Cha mẹ sinh con, trời sinh tánh / Tú Xã.
Thầy thuốc văn nghệ:
. Đau đầu gối / Bác sĩ Đào Ty Tách.
---------------------------------------------------------------
Trân trọng kính mời quý cộng tác viên tiếp tục gửi bài cộng tác, quý độc giả đón đọc và cổ động Tuần Báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh.
Blog Phan Nam.


Xem tiếp…

Báo Người Hà Nội giới thiệu thơ Phan Nam

5:24 PM |

PHAN NAM sinh năm 1995, hiện sống tại Đà Nẵng. Đã có thơ, tản văn, truyện ngắn đăng trên một số báo, tạp chí, website văn học nghệ thuật. Được trao tặng thưởng tác phẩm hay tạp chí Non nước 2017.

Nỗi buồn mùa thu

không thể định hình nổi mùa thu
bên kia triền núi gầy guộc
ở nới ấy ba tôi lưng trần chân cộc
vốc một nấm đất, gieo từng mần non

cơn mưa trôi qua màu xanh héo hon
tôi bơi theo nỗi nhớ gãy vụn
ký ức ngày thơ bé lần lượt rơi xuống
không còn chỗ cho thi ca

quê mình mùa này ánh nắng nhạt nhòa
chập chờn sóng FM báo tin biển động
đám mây vắt ngang lán trại
gọi tên đỉnh núi từng làn mây trắng bay

khoảng trống đo đong giấc ngủ
con suối xuôi dòng
lắng nghe tình yêu lắng đọng
qua bao nhiêu thác ghềnh?



Đôi dòng...

Lấy khô khát mà xanh
Lấy lạnh lẽo mà đong đầy hạnh phúc
Lấy tĩnh lặng mà xôn xao ngày mới
Lấy vần thơ phác họa nỗi buồn
Những khoảng trống cứ thế tuôn rơi

Đã đi qua bao ngày nắng
Đã đi qua bao ngày mưa
Bên kia đại dương những vì sao vụt tắt
Yêu thương biết mấy cho vừa

Thành phố nghiêng theo mây trắng
Cửa biển mắt nhắm mắt mở
Có ai vừa cất lên tiếng ca chờ đợi
Ngày mai là một ngày đẹp trời...

Phố dài

Lục bình từ đâu tới
Mà sông mải miết trôi
Hai bên sông là phố
Hai bên đường sưa bay
.
Mùa vàng đã chín rụng
Hoa như mưa rơi rơi (*)
Giăng ngập trong đáy mắt
Cầm chổi quét thềm ngày
.
Trời gom từng lọn mây
Nước gom từng làn sóng
Nắm tay anh tay em
Cửa Hàn hôn nhè nhẹ
.
Nàng Tiên Sa ở đâu
Đi mãi không hết phố
Những hòn cuội lặn sâu
Cánh cửa, ai, đang mở...
(*) thơ Thanh Tùng

PHAN NAM.


Xem tiếp…

Hội thảo khoa học cuộc đời và sự nghiệp văn học của Lưu Quang Vũ

4:15 PM |

Ngày 29.8, nhân kỷ niệm 70 năm ngày sinh và 30 năm ngày mất của nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch của Lưu Quang Vũ, viện văn học phối hợp với trường Đại học Duy Tân tổ chức hội thảo khoa học cuộc đời và sự nghiệp văn học của ông. Hội thảo có sự tham dự của PGS. TS Nguyễn Đăng Điệp, viện trưởng viện văn học, PGS. TS Nguyễn Thế Kỷ, tổng giám đốc Đài tiếng nói Việt Nam, ông Lê Công Cơ, nhà giáo ưu tú, chủ tịch HĐQT trường ĐH Duy Tân, ông Bùi Văn Tiếng, chủ tịch liên hiệp các hội VHNT Đà Nẵng, cùng nhiều nhà khoa học và đông đảo các bạn sinh viên khoa khoa học xã hội & nhân văn trường ĐH Duy Tân.
Quang cảnh hội thảo
Hội thảo đã nhận được hơn 70 tham luận của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, các giảng viên trong cả nước: viện văn học, ĐH Duy Tân, trường ĐH KHXH & nhân văn Hà Nội, TP HCM, ĐH Đà Nẵng, ĐH Quảng Nam, ĐH Huế, ĐH Thái Nguyên, ĐH Sư phạm Hà Nội, ĐH Thủ Dầu Một… trong đó có 55 báo cáo lựa chọn in kỷ yếu, 7 báo cáo gồm 3 tham  luận về thơ, 1 kịch, 1 truyện ngắn, 1 hồi ký trình bày tại hội thảo. Hội thảo là dịp để nhìn lại, đánh giá, tổng quát về cuộc đời và sự nghiệp văn học của Lưu Quang Vũ, các tiếp cận mới về thơ, truyện ngắn, kịch… từ ký hiệu học, chủ nghĩa hiện sinh, phê bình sinh thái, các tham luận làm rõ thêm về cá tính sáng tạo, sự nhạy bén và tầm vóc tư tưởng mang tính thời đại trong các tác phẩm ông.
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên phát biểu tại hội thảo
Lưu Quang Vũ sinh ngày 17.4.1948, mất ngày 29.8.1988, là nhà soạn kịch, nhà thơ, nhà văn hiện đại Việt Nam. Ông sinh tại Phú Thọ nhưng quê gốc ở Đà Nẵng, trong suốt quá trình sáng tác văn học ông đã để lại một số truyện ngắn, các tập thơ Hương cây – Bếp lửa (1968, in chung với Bằng Việt), Mây trắng của đời tôi (1989), Bầy ong trong đêm sâu (1993) và rất nhiều vở kịch nổi tiếng như: Hồn Trương Ba da hàng thịt, Hoa cúc xanh trên đầm lầy, Tôi và chúng ta…
Tin, ảnh: Phan Nam.

Xem tiếp…

Đinh Thị Như Thúy: yêu thương trao lời... - bài cảm nhận của Phan Nam.

8:35 AM |

Và ngôi nhà ấy & khu vườn ấy & niềm tin ấy đưa tôi đến. Với những bản tặng đã được gói ghém & ký sẵn: Nguyễn Minh Hùng, Nguyễn Ngọc Hạnh, Đinh Lê Vũ, Huỳnh Lê Nhật Tấn..., có lẽ tôi là người nhỏ tuổi nhất, trong một buổi sáng trong trẻo đến hoang vu...
Sau các tập thơ Cùng đi qua mùa hạ (NXB Văn nghệ 2005), Phía bên kia cây cầu (NXB Phụ nữ 2007) & Ngày linh hương nở sáng (NXB Hội nhà văn 2011) được trao nhiều giải thưởng văn chương uy tín, tác giả Đinh Thị Như Thúy tiếp tục ra mắt tập thơ mới Trong những lời yêu thương (NXB Hội nhà văn 12.2017). Đây là cuốn sách nằm trong kế hoạch sách Nhà nước đặt hàng hằng năm nhằm tôn vinh ghi nhận hơn nữa những đóng góp thiết thực, hiệu quả trong lao động sáng tạo nghệ thuật, của các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu lý luận phê bình vào sự nghiệp văn hóa, văn nghệ của đất nước.
Với 62 bài trong gần 200 trang in, chủ yếu là thơ tự do và thơ văn xuôi, nhà thơ Đinh Thị Như Thúy đã thổi một mạch ngầm trong trẻo, dịu dàng với những dòng thơ tươi mới, quyết liệt, ngập tràn sự khai phá, táo bạo. Mang sứ mệnh kiến tạo giá trị thi ca xuất phát từ những yêu thương tự trong sâu thẳm, tác giả làm sống dậy linh hồn đất đai, từ thực thể đến tâm thức, với những ám ảnh lạ lùng, sâu sắc và cũng không kém phần thi vị. Những bông hoa trắng ẩn hiện từ xa xôi vang vọng tiếng gọi tự do, từ đại ngàn đến thành thị chỉ như một giấc mộng dài, đánh thức đất đai xứ sở: “Vẻ đẹp đó. Quá chừng tinh khiết và lộng lẫy. Làm con người choáng váng. Thấy mình sao trần tục. Một ước muốn gột rửa bất chợt dâng đầy/ Là vậy. Bạn biết không? Sự cứu rỗi của cà phê không chỉ ở trong trái chín. Trong từng giọt sậm thơm lừng mỗi sáng/ Mà ở đây. Cả trong mùa tưới. Mùa hoa. Trong đất đai nồng nã. Trong ngọn gió hoang. Mang nỗi nhớ bay đi. Vượt trùng trùng xa ngái. Tìm đến một người” (Hoa trắng tháng hai, trang 27). Đọc thơ Đinh Thị Như Thúy, thực khó định vị chính xác chúng ta đang ở đâu, những không gian nối tiếp nhau, mở ra vô tận, trong từng ánh mắt, từng hơi thở, từng cử chỉ, từng cái động chạm. Dường như những biến động trong thơ chị lạ lùng, tràn đầy tinh tế, cứ ẩn hiện chập chùng như sương, như gió, như mây, như nước, chẳng mang hình hài cụ thể nhưng vẫn mang lại cảm giác ấm áp, bao dung và nhân hậu. Nhà thơ Phan Hoàng từng nhận xét: “Từ vùng đất Tây Nguyên, từ khu vườn của mình, Đinh Thị Như Thúy đã cất lên tiếng thơ trong trẻo như suối nguồn, huyền ảo như đại ngàn, nghiêm cẩn như bảng đen phấn trắng, mang đến cho nền thơ Việt đương đại một ánh chớp, một giấc mơ đẹp và quyến rũ”. Sinh ra và lớn lên ở mảnh đất thi ca Thừa thiên Huế, chị có khoảng thời gian dạy học ở Tây Nguyên, năm 2012 chị chuyển về công tác tại Liên hiệp các hội VHNT Đà Nẵng. Đến với thành phố bên bờ sông Hàn không lâu, chị đã phát lộ miền tâm tưởng cao đẹp với nhiều khát vọng thầm kín: “Thường đi dọc sông Hàn mỗi sớm mai/ Thời khắc vắng/ Đón ngọn gió đến từ bờ Đông/ Ngọn gió ăm ắp ánh mặt trời/ Ban mai/ Sông Hàn trắng/ Vẫn thương làm sao những vòm cây xa xôi/ Khu vườn thiếu hơi thở/ Lặng/ Dịch chuyển không làm nên ngăn cách/ Sông Hàn ban mai kéo một vệt sáng/ Cơn rùng mình bén ngọt/ Cắt vào ngày” (Ban mai đi dọc sông Hàn, trang 99).

Nỗi u hoài thế nhân vận vào đôi mắt nữ sĩ, cứ quấn lấy không rời, không đành tâm dứt bỏ, đành buông xuôi cảm xúc dưới những hơi thở khác, những sự sống khác, khoảnh khắc khác, tưởng như thật gần gụi nhưng lại hóa xa xôi: “tôi thuộc về giọng nói thì thầm trong tôi”. Định hình phong cách theo con đường của một người mê đắm với thi ca, nhưng chị là vô cùng tỉnh táo trong những lời yêu thương gửi trao đến độc giả, đến công chúng, dẫu đôi khi rơi vào cảm tính cá nhân, tuy nhiên điều đó càng minh chứng sự sắc sảo trong thơ chị, những con chữ được viết ra từ gan ruột, từ đáy lòng: “Ta chờ tiếng thì thầm/ Chờ hơi thở gấp/ Chờ một động chạm để tỏ bày cảm xúc/ Sao tất cả luôn quá chừng xa xỉ/ Cô độc níu bàn tay ta lưng chừng/ Không cho phép/ Chẳng điều kỳ diệu nào có thể xảy ra/ Sao chúng ta chạm mặt nhau chỉ để rời xa/ Sao cứ muốn trốn nhanh về nơi trú ẩn/ Vùi mặt vào gối chăn/ Tìm dấu vết chính mình/ Nghe đơn côi chảy rùng rùng trong máu/… / Đau đớn thú nhận đời sống thật quá buồn” (Chưa bao giờ ta đến được giấc mơ của nhau, trang 57). Tầng tầng lớp các câu thơ đa nghĩa dẫn chúng ta đến một miền thơ nhiều gập ghềnh, khúc khuỷu nhưng cũng tràn đầy hoa thơm trái ngọt, ở đó không gian, xúc cảm tưởng chừng mong manh dễ vỡ, man mác u buồn nhưng cũng lấp lánh sắc màu, sắc màu của cái đẹp, sắc màu của tình yêu.
Đinh Thị Như Thuý nhận giải nhất Thơ ca và nguồn cội lần 2 ở làng Chùa, Hà Nội
Tác giả sử dụng nhuần nhuyễn nghệ thuật tu từ “phép điệp” tạo nên phong cách thi ca riêng, thú vị và độc đáo. Những bài thơ với trùng trùng điệp điệp thi ảnh, âm thanh gợi lên cõi giới thẩm mỹ đẹp đẽ, trong trẻo lạ lùng đã cho thấy những nỗ lực đáng ghi nhận của tác giả nhằm chuyển tải đến bạn đọc những khao khát tìm kiếm, tỏ bày, những lời trao gửi yêu thương: “Những tiếng gọi như tan vào khoảng rỗng/ Sương dâng mịt mờ/ Suốt một ngày dài một đêm dài/ Một ngày dài một đêm dài/ Rồi ngày dài rồi đêm dài tiếp nối/ Những tiếng gọi cứ tan vào khoảng rỗng/ Sương dâng mịt mờ/ Chỉ cây/ Và cây/ Và cây/ Những cây trổ mầm xanh bên cầu/ Những cây trơ trụi lá/ Những cây nứt ngang thân mềm rễ đỏ/ Những cây ngơ ngác đơm hoa/ Nhẫn nại đứng im lìm trong màn sương bủa vây như sữa/ Chỉ cây/ Và cây/ Và cây/ Đầm đìa chảy/ Từ lá từ thân/ Những dòng nước mắt trong suối lạnh/ Chỉ cây/ Và cây/ Buồn bã chịu đựng/ Chỉ cây/ Và cây/ Vẫn những tiếng gọi như tan vào khoảng rỗng/ Vẫn sương dâng mịt mờ/ Suốt những ngày dài những đêm dài/ Vẫn chỉ cây/ Và cây/ Và cây/ Bất lực/ Cháy những đốm lửa rưng rưng trong ký ức (Cây trong sương, trang 145).  Với chỉ hai hình ảnh chỉ “cây” và “sương”, tác giả đưa ta lạc vào chốn mê hoặc trong cõi giới thi ca đầy ngọt ngào và quyến rũ, tác giả luôn tạo ra khoảng trống bất tận để độc giả được hòa mình vào tâm hồn của tác giả, cùng hòa nhịp và cùng đồng điệu. “Đốm lửa” trong thơ Đinh Thị Như Thúy chính là đốm lửa của niềm tin và hy vọng, của sự dâng hiến cháy bỏng, của yêu thương vẫy gọi từ xa xăm diệu vợi. Còn rất nhiều điều đặc biệt trong tập thơ khá dày dặn “trong những lời yêu thương” được xuất bản lần này, đưa chúng ta khám phá mọi ngóc ngách của con chữ từ khi được gieo trồng đến khi “mọc như một kiêu hãnh lặng câm”.
Đà Nẵng, những ngày bên ly café, tháng 8.2018
PHAN NAM.



Xem tiếp…